Biệt khu Hải Yến - Bình Hưng, với diện tích khoảng 30ha, nằm trên bờ sông Cái Đôi Giữa, ấp Thanh Đạm, xã Tân Hải, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Biệt khu này được xây dựng từ cuối năm 1959 dùng để giam giữ, tra tấn, thủ tiêu những chiến sĩ cách mạng và thảm sát những người dân nghèo vô tội.
Sau ngày hòa bình lập lại (1954), với ý đồ chia cắt lâu dài đất nước Việt Nam, Mỹ - Diệm ban hành nhiều sắc lệnh, trong đó chúng đưa ra chính sách lập khu dinh điền, khu trù mật, mục đích là đẩy nhân dân ta ra khỏi nơi họ sinh sống và đưa người của Quốc gia vào các khu căn cứ kháng chiến để “tát nước bắt cá”, biến nơi đây thành thánh địa của Quốc gia.
Năm 1957, Nguyễn Lạc Hóa cùng 80 hộ dân theo đạo Thiên Chúa di cư đến hai bên kinh xáng Thợ May, xã Phú Mỹ, huyện Cái Nước và thành lập xứ đạo Phú Mỹ. Sau khi nắm được tình hình, thấy khu dinh điền Phú Mỹ nằm xa khu rừng 388, xa khu căn cứ cách mạng, Nguyễn Lạc Hóa cho di dời nhà thờ và khu dinh điền Phú Mỹ về ấp Thanh Đạm, xã Tân Hưng Tây, huyện Cái Nước thành lập khu dinh điền Cái Cám. Cùng thời gian này, Nguyễn Lạc Hóa đưa trên 80 hộ dân di cư từ Quảng Nam đến Cái Đôi Giữa, ấp Thanh Đạm thành lập khu dinh điền Bình Hưng. Nguyễn Lạc Hóa vận động và thu nhận 120 gia đình dân tộc thiểu số Trung Hoa, di cư đến kinh Mỵ Nương thành lập khu quân sự.
Năm 1958, với số dân cư khá đông và được kiểm soát chặt chẽ, quy củ và đủ điều kiện thành lập biệt khu quân sự, do đó Nguyễn Lạc Hóa chủ động đề nghị phủ Tổng thống Diệm chuẩn y xây dựng biệt khu trên cơ sở khu dinh điền Bình Hưng.
Từ năm 1959 - 1960, Nguyễn Lạc Hoá tập hợp về biệt khu những thành phần bất hảo trong xã hội, những đối tượng bị thất sủng của chế độ Sài Gòn. Những ai theo Nguyễn Lạc Hoá được cấp đất, xây nhà và cấp phát súng ống, lương thực; tất cả đều được Mỹ - Nguỵ tài trợ.
Năm 1965, biệt khu Hải Yến Bình Hưng có quân số dao động từ 1.200 - 1.800 quân, gồm: Tiểu đoàn bảo vệ, Thủy quân lục chiến, Bảo an, Thám báo, biệt kích Mỹ, Dân vệ, Phòng vệ dân sự, Bảo vệ hương thôn, Phượng hoàng, đội xây dựng nông thôn và 6 ban chuyên môn: Điều tra, Hậu cần, Hộ tịch, Hiến binh, Công binh, Giao thông, ngoài ra còn có hệ thống Tình báo, Gián điệp, Điềm chỉ, Mật vụ. Cao điểm tại nơi đây, quân số lên đến trên 2.000, có cả sân bay lên thẳng hiện đại.
Bình Hưng là chỉ huy sở, xung quanh Bình Hưng có 23 đồn như: Kinh Mới, Quảng Phú, Vàm Đình, Dinh Điền, Đường Cày, Cái Đôi Vàm, Sào Lưới, Cái Bát, Rạch Chèo, Tân Quảng, Gò Công, kinh Đứng, Hào Xuân, Thợ May, Ba Tiệm.
Phụ tá đắc lực của Nguyễn Lạc Hóa là Nguyễn Lạc Nghiệp (em ruột của Nguyễn Lạc Hóa) với chức danh là người đại diện, cùng với một số cộng sự khác là Phòn A Dưỡng, Vòng Cá Hồ, Cai Xài, Cai Xồi. Trong số cán bộ đầu hàng phản bội trở nên gian ác và cộng tác đắc lực với Nguyễn Lạc Hóa có các tên Bùi Văn Trứ, Nguyễn Văn Dạt, Trần Văn Trạng.
Trong thời gian tồn tại, Biệt Khu Hải Yến Bình Hưng nổi tiếng những tội ác tài trời, mà cầm đầu là tên cố đạo Nguyễn Lạc Hóa. Nguyễn Lạc Hóa kích động, dung dưỡng cho bọn lính Bình Hưng tự do bắn giết, hãm hiếp, chặt đầu, mổ bụng lấy mật, moi gan, gây biết bao đau thương, mất mát đối với nhân dân, chiến sĩ của ta.
Những dịp lễ, Tết các đồng chí Cán bộ và nhân dân huyện Phú Tân thường đến thắp hương tưởng niệm những CB,CS và nhân dân đã hy sinh tại nơi đây (Ảnh: Cẩm Hường)
Một trong số những người lính Bảo an Bình Hưng ngày xưa kể lại: Trong một lần hành quân ra Cái Đôi Vàm, gặp Hai Sến là dân thường, chúng hỏi: “Có thấy Việt cộng đâu không?”. Hai Sến trả lời “không thấy”. Sau đó, chúng gặp phải du kích, chúng đã quay lại bắt Hai Sến bắn chết. Gặp một phụ nữ đang nhổ bồn bồn, chúng đã bắn và thẻo tai mang về. Có lần bọn chúng càn qua Tân Quảng, bắt 5 người đưa về Bình Hưng, dọc đường chúng kêu lội lấy ổ cò, nhưng vừa mới đi mấy bước chúng nổ súng bắn chết, cứ lần lượt như thế, chưa tới Bình Hưng chúng đã bắn chết cả 5 người.
Tháng 6/1961, tại ấp Cái Bát, chúng bắn Lâm Văn Phiêu, du kích xã Tân Hưng Tây bị thương, chúng đè anh mổ bụng khi anh còn sống. Anh lấy tay đỡ lưỡi lê, chúng xẻ nát hai bàn tay anh, anh chửi, chúng xẻ miệng anh, đem gan của anh đến tiệm ông Trần Chon xắt từng miếng chấm muối tiêu, kẹp với gừng ăn sống, uống rượu.
Tư liệu của Bảo tàng tỉnh Cà Mau cho biết: Đêm 14/9/1961, bọn Bình Hưng kết hợp với lính Vàm Đình bao vây nhà bác Tám Sồi ở kinh Đất Sét, xã Phú Mỹ, huyện Cái Nước. Chúng bắn chết anh Lung và anh Phước (giao liên tỉnh), bắt bác gái, cô dâu mới sinh và cô con gái út 15 tuổi để thi nhau hãm hiếp. Sau đó, chúng bắt 10 người trong gia đình xếp hàng trước sân (có 6 trẻ em) rồi bắn chết tất cả. Gặp bác Tám Sồi cùng đứa con đi giăng câu về, chúng bắt về Bình Hưng tra tấn bác trai đến chết và giấu mất xác.
Ngày 21/12/1961, địch thảm sát tại ấp Kết Nghĩa, xã Tân Hưng Tây, gồm mẹ, vợ của ông Phan Thái Hoà cùng cô con dâu và hai cháu nhỏ. Sau khi hãm hiếp phụ nữ, chúng lôi tất cả 5 người vào đống lửa đốt thành tro cùng với căn nhà.
Khoảng tháng 5/1963, chúng biệt kích vào Lung Môn, bắn chết một lượt 8 người, chặt khúc quăng rải rác khắp nơi. Còn chuyện vô cớ giết người thì vô kể, khi càn vào Nhà Di, chúng bắn chết một phụ nữ, đứa con nhỏ còn sống, leo qua, leo lại bú mẹ, mặt mũi đầy máu. Trong một trận càn, chúng gặp 2 phụ nữ là Lê Thị Phải và Bốn, chúng kêu ghé lại xin 5.000 đồng, hai chị không có tiền, chúng bắn chết cả hai.
Tháng 3/1965, chúng thảm sát tại nhà ông Lê Văn Chữ, kinh Đoàn Dong, tất cả 6 người từ 3 đến 15 tuổi đều chết dưới mũi súng dã man.
Tại Biệt khu Hải Yến Bình Hưng, Nguyễn Lạc Hóa cho xây một nhà tù gồm có 4 căn, 3 căn dành cho nam, một căn dành cho nữ, lúc nào cũng đầy người, chỉ có thể nằm nghiêng hoặc ngồi. Những ai chúng muốn thủ tiêu thường được gọi đi công tác Đầm Cùng, chúng đưa nạn nhân qua cầu Vĩnh Biệt bắt qua kinh Mỵ, phía tây Biệt khu, đem ra phía sau để giết. Mấy hôm sau lại được thay thế bằng số tù nhân khác (hiện nay vẫn còn hai hầm xương).
Ngoài việc bắn giết tù nhân, bọn chúng còn mổ bụng lấy tim, gan xào ăn. Theo một số nhân chứng còn sống như ông Phù Mìn, Lý Tài Phương là lính Bình Hưng và tù nhân kể lại, trong bọn Tàu Tưởng, có tên Pà Phán chuyên nấu ăn cho Hóa và Nghiệp, rất thích ăn gan người, những ai bị thủ tiêu, bọn chúng thường lấy gan để xào ăn.
Những tội ác dã man của bọn Bình Hưng không sao kể hết, cách thức và thủ đoạn của chúng hết sức man rợ. Chúng xem tính mạng con người không khác gì súc vật, thẳng tay bắn giết. Ghê gợn nhất, khinh khiếp nhất là hình thức giết người theo kiểu “Biểu tượng của sự tự do” với 14 cách giết, trong đó có 3 hình thức giết người không nơi nào có là mổ bụng lấy gan xào ăn; chế nước sôi “cạo lông” rồi nấu người như nấu gà; giết người xẻo vành tai chiên ăn. Theo thống kê chưa đầy đủ của Bảo tàng tỉnh Cà Mau, đã có 1.675 cán bộ, chiến sĩ và đồng bào bị giết.
Trải qua bao thăng trầm biến đổi, hiện khu vực này còn sót lại những chứng tích như: Cây cầu vĩnh biệt (nơi dẫn tù nhân từ nhà giam qua đến hố chôn người), các hố chôn người tập thể...
Biệt khu Hải Yến - Bình Hưng được công nhận di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia ngày 24/11/2000. Việc xây dựng Khu Di tích Biệt khu Hải Yến Bình Hưng là một việc làm cần thiết. Đây là nơi ghi dấu tội ác Mỹ - Ngụy, giáo dục truyền thống yêu nước và lòng căm thù giặc sâu sắc cho thế hệ trẻ Phú Tân. Thông qua đó hình thành trong các em lòng biết ơn thế hệ đi trước đã chiến đấu anh dũng để giành lại nền hòa bình hôm nay.
Cẩm Hường THPT Phú Tân
NĂM 1962 MỸ ĐÃ THẤY MẤT VIỆT NAM
Một Lý Do Chính Là Vì Nhà Ngô Làm Hỏng Ấp Chiến Lược
Foreign Relations of the United States, 1961–1963
Volume II, Vietnam, 1962, Document 268
(LỜI NGƯỜI DỊCH: Bản Ghi Nhớ này, từ các hồ sơ đã giảỉ mật, do Joseph A. Mendenhall viết. Ông là cố vấn chính phủ Kennedy về chính sách Mỹ ở Việt Nam và Lào. Bản Ghi nhớ số 268 cho thấy tình hình VNCH bi đát từ năm 1962, đặc biệt chính sách ấp chiến lược bị hỏng vì nhà Ngô.
Bản Ghi nhớ nầy được viết vào giữa tháng 8 năm 1962, sau Tuyên Ngôn “Caravelle” lên án chế độ (26-4-1960), sau vụ Binh biến của binh chủng Nhảy Dù (11-11-1960) và sau Cuộc oanh kích Dinh Độc Lập để mưu sát toàn gia họ Ngô (27-2-1962), nên tác giả cũng đã khuyến nghị (recommendation) giải pháp loại bỏ (get rid of) ông Diệm và vợ chồng ông Nhu. Đặc biệt, lúc đó,chưa xảy ra biến cố đàn áp Phật giáo ở Huế (8-5-1963) dẫn đến cuộc khủng hoảng chính trị toàn diện tại miền Nam.
Ghi nhận từ Bản Ghi Nhớ các điểm sau:
● Năm 1959, quân đội Việt Nam Cọng Hòa kiểm soát toàn bộ Miền Nam Việt Nam, trừ Đồng Tháp Mười. Năm 1962, chỉ còn kiểm soát các thành thị, vì quân Việt Cọng đã kiểm soát phần lớn nông thôn.
● Tại nơi hẻo lánh, chỉ duy một mô hình an ninh thành công là Giáo xứ của Linh Mục Nguyễn Lạc Hóa, được ông Diệm phong cấp Thiếu Tá, biến thành Biệt Khu Hải Yến, cho lập quân đội riêng.
● Mỹ thấy viễn ảnh tất yếu sẽ mất Việt Nam về tay Việt Cọng, vì gia đình ông Ngô Đình Diệmđa nghi, kém hiệu quả, mất lòng dân.
● Chính sách Ấp Chiến Lược bị làm sai từ căn bản: chạy theo thống kê, không lo cải thiện mức sống của dân, bầu cử gian lận, cưỡng ép dân lao động vô ích...
● Mendenhall đề nghị đảo chánh ông Diệm là cách duy nhất; nếu không, trước sau gì Mỹ cũng thua, và Việt Nam sẽ bị nhuộm đỏ.
|
Phó bản Bản Ghi Nhớ 268 sẽ đính kèm dưới bản dịch này. Bản Việt dịch do Cư sĩ Nguyên Giác.)
BẮT ĐẦU BẢN DỊCH
268. Bản Ghi Nhớ Từ Cựu Cố Vấn Chính Trị Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam (Joseph A. Mendenhall) Trình Lên Phụ Tá Thứ Trưởng Ngoại Giao Đặc Trách Viễn Đông Vụ Edward E. Rice.
(1)
Washington, Ngày 16 Tháng 8 Năm 1962
ĐỀ TÀI: Việt Nam – Đánh giá và Khuyến nghị
Tôi viết bản ghi nhớ này theo lời yêu cầu của ngài để ghi lại những gì tôi nhìn thấy về vấn đề VN. Nơi đây chỉ nói những điểm căn bản thôi, và không có ý nhìn về những khía cạnh khác có tính quan trọng tương đối.
1. Tinh Hình
Thời kỳ 1959-1962. Việt Cộng đã tăng quân số trong lực lượng vũ trang thường trực tại Nam VN từ khoảng 2.000 trong cuối năm 1959 tới khoảng 20.000 bộ đội bây giờ. Con số sau này tương đối không đổi trong năm 1962, nhưng theo giải thích của VNCH là VC thương vong nặng nề mỗi tháng thì VC hiển nhiên tiếp tục có khả năng thay quân để bù đắp các thiệt hại lớn. Xâm nhập từ Bắc VN không bị xem là nhỏ, như một nguồn của sức mạnh này, nhưng đa số quân VC đã được tuyển mộ từ địa phương và tiếp tục như thế.
Vào cuối năm 1959, quân VNCH đã kiểm soát hiệu quả hầu hết vùng Nam VN (ngoại trừ các căn cứ CS cũ, như trong Đồng Tháp Mười). Lúc đó, người ta có thể du lịch, ít nhất là ban ngày, gần như ở mọi nơi tại Nam VN mà không cần an ninh hộ tống; và ở Miền Trung VN, an ninh gần như tuyệt hảo. [Nhưng] Bây giờ, VC đã kiểm soát hiệu quả đa số khu vực nông thôn ngoại trừ khi quân VNCH tiến vào với số lượng lớn, và đa số phần còn lại ở miền quê là lắc lư dao động giữa hai bên. VNCH kiểm soát thực sự phần lớn là ở các thành thị.
Khuynh Hướng Hiện Nay. Trong khi sự suy sụp nhanh chóng hồi tháng 9 và tháng 10-1961, đặc biệt về tinh thần chống Cộng, được chận lại nhờ sự tăng viện quân sự của Mỹ và sự cải tiến khả năng quân sự VNCH, khuynh hướng an ninh hiện nay vẫn tiếp tục suy sụp dần.
Tại các tỉnh đồng bằng Miền Trung VN, an ninh suy sụp tệ hại trong năm 1962. Mặt khác, các tỉnh cao nguyên Miền Trung VN tình hình đỡ hơn vào cuối năm 1961, nhưng như thế có thể vì, một phần, do VC chuyển tập trung từ các nơi này xuống vùng đồng bằng, nơi tìm lương thực và tuyển bộ đội từ sắc tộc Kinh dễ dàng.
Tại Miền Nam VN (các tình phía nam và giáp phía bắc Sài Gòn) tình hình quân sự bề ngoài là ngang ngửa, nhưng thực sự vẫn bất lợi cho chúng ta khi các trận do VC khởi ra tiếp tục ở mức độ cao và dân chúng không được quân VNCH bảo vệ hiệu quả. Các khu vực hẻo lánh (như vùng của Cha Hóa ở Cà Mau, mỏm phía nam của VN) đã cải thiện, nhưng đó là trường hợp ngoại lệ, không phải quy lệ.
[LND: Nhân vật “Cha Hóa” trong báo cáo này là Linh Mục Augustinô Nguyễn Lạc Hóa, sinh năm 1908 ở Quảng Ninh, cai quản một số giaó xứ ở Miền Bắc VN. Năm 1954, LM Hóa cùng một số tàn quân Trung Hoa Quốc Dân Đảng di tản sang Cam Bốt, lập chiến khu; năm 1957, bị Vua Sihanouk trục xuất, LM Hóa đưa dân trong giáo xứ về Cà Mau, được ông Diệm giúp lập Biệt Khu Hải Yến, cho lập quân đội riêng, dao động khoảng 1.200-1.800 quân. Ông Diệm phong LM Hóa là Thiếu Tá Tư Lệnh Biệt Khu Hải Yến. Quân Biệt Khu Hải Yến bị VC đánh bại năm 1966; sau đó, LM Hóa về Sài Gòn làm mục vụ. LM Hóa về Đài Loan năm 1972, và từ trần năm 1989.
Cha Hóa đang tuần tiểu trong Biệt Khu Hải Yến - Với sự trợ giúp của quân đội Mỹ]
Viễn Ảnh. Khuynh hướng tương lại có vẻ như sẽ tiếp tục suy sụp dần dần, với có lẽ thỉnh thoảng là một trận đánh lớn do VC tung ra có mục đích tuyên truyền. Không có viễn ảnh gần nào cho thấy VC sẽ chuyển quân du kích sang quân quy ước chiến, nhưng họ có thể cảm thấy điều đó không cần thiết cho việc chiếm gọn Miền Nam VN.
Thay vào đó, họ có thể quyết định sẽ dựa vào sự mệt mỏi chiến tranh tại Nam VN và/hoặc tại Hoa Kỳ. Nếu chiến tranh kéo dài với suy sụp dần dần và không có hy vọng chiến thắng, nguy hiểm là sẽ dẫn tới cảm thức chính trị trong giới trí thức Nam VN từ lập trường chống Cộng mạnh mẽ sang đòi hỏi trung lập như cách duy nhất để ngừng cuộc chiến. Từ quan điểm Hoa Kỳ, tôi (Mendenhall) thấy như thế sẽ là tai họa, vì trung lập hóa riêng Nam VN sẽ mau chóng dẫn tới việc Bắc VN nhuộm đỏ cả nước VN.
2. Tại Sao Chúng Ta Thua?
Yếu Tố Căn Bản. Tổng Thống Diệm và những nhược điểm của ông ta tiêu biểu cho lý do nền tảng của khuynh hướng chống lại chúng ta trong cuộc chiến này. Trong hoàn cảnh hiện nay, phẩm chất xuất sắc của ông về sự thông minh và can đảm đã bị đè bẹp bởi 2 nhược điểm lớn: a) kém hiệu quả về mặt tổ chức trong chính phủ gây ra từ việc ông có tính bất quyết, từ chối trao quyền cho nhân viên thực hiện, thiếu chuỗi quyền lực (hàng dọc), không chịu nhận lỗi, không tin người khác; và b) ông không có khả năng huy động quần chúng hỗ trợ, vì yếu kém trong vai trò một chính trị gia.
Để chiến thắng Cộng sản, chính phủ Nam VN phải hoặc là có hiệu quả hoặc là được quần chúng ủng hộ, nhưng chính phủ của Tổng Thống Diệm không có được điểm nào như thế.
Ai cũng biết rằng cần phải có ủng hộ từ dân, chúng ta mới thắng nổi cuộc chiến. Bởi vì chính phủ Nam VN hiện nay không được dân ủng hộ, nên không có đủ tin tình báo từ dân chúng để đánh bại VC, và quân địch vẫn tiếp tục duy trì được sức mạnh xuyên qua tuyển mộ bộ đội từ dân.
Để phá vỡ vòng tròn khắc nghiệt này, VNCH phải tìm được ủng hộ từ dân làng bằng cách cho họ sự bảo vệ thích nghi và giúp họ cải thiện mức sống. Chương trình ấp chiến lược này lập ra để làm như thế, nhưng chính phủ ông Diệm không tổ chức hiệu quả và phương pháp chính trị yếu kém chỉ đã cho một chút hứa hẹn rằng chương trình sẽ thực hiện hiệu quả bởi chính phủ của ông.
Bất kể Hoa Kỳ thường xuyên hối thúc nhiều tháng qua, đã không có ưu tiên thực sự nào cho việc thiết lập các ấp chiến lược được đưa ra, và việc phân phối thiếu hệ thống các nguồn taì nguyên quân sự và dân sự nhằm hỗ trợ chương trình. Thay vào đó, các quan chức đang thúc đẩy mọi nơi cùng một lúc, nhằm hoàn tất số liệu cần thiết để làm hài lòng áp lực từ Sài Gòn, bất kể là về hầu hết các phương diện quan trọng, nhiều ngôi làng này – có lẽ nên nói là hàng loạt ngôi làng này – không thích nghi để đạt mục tiêu của họ và dân chúng thường bị cưỡng ép lao động vô ích.
Phương pháp chính trị áp dụng theo chỉ thị của ông Nhu tại các ấp chiến lược (lập các tổ chức quần chúng và dựa vào ‘tự lực’, tức là, lao động cưỡng ép) nhiều phần thường là mất lòng dân, hơn là được lòng dân, và việc bầu cử các quan chức ấp chiến lược bằng phiếu bầu bí mật trong bầu không khí ở VN chỉ là trò gian lận thôi.
Thành tố xã hội và kinh tế của chương trình – quan yếu để được ủng hộ tích cực từ dân -- tới giờ vẫn hầu như không được chính phủ ông Diệm chú trọng, chỉ trừ trong vài ấp chiến lược kiểu mẫu, và trong hai vùng mà chúng ta đã tảo thanh và bình định, nơi chúng ta hợp tác cận kề với người Việt.
Tất cả những lý do đó là cơ nguy nghiêm trọng đang làm hỏng chương trình ấp chiến lược, dưới mắt của mọi người.
Không có cơ may nào thay đổi phương pháp chính trị của ông Diệm và Nhu, hay phương pháp tổ chức và quản trị công quyền của họ. Ông Diệm đã quá già, và dính cứng vào kiểu quan triều phong kiến. Cả ông và Nhu đều tin rằng họ hiểu Việt Nam nhiều hơn bất kỳ ai khác, và do vậy chỉ thỉnh thoàng mới nghe lời khuyên. Cả hai người đều không tin cậy bất kỳ ai ngoài gia đình của họ tới nổi họ hoàn toàn không muốn thay đổi phương pháp quản trị chính phủ bằng cách “chia để trị.”
3. Kết luận và Khuyến nghị
Kết Luận: Rằng chúng ta không thể thắng cuộc chiến này với các phương pháp Diệm-Nhu, và chúng ta lại không thể thay đổi các phương pháp này, bất kể bao nhiêu áp lực chúng ta thúc đây họ.
Khuyến Nghị: Loại trừ ông Diệm, cả ông bà Nhu và phần còn lại trong gia đình nhà Ngô.
Giải pháp khác:
- Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ và Tướng Dương Văn Minh như một liên minh, với ông Thơ thắng cử hợp hiến vào ngôi Tổng Thống và Tướng Minh, vị Tướng được dân chúng ưa chuộng nhất, chỉ huy quân lực. Giải pháp này nên chọn nhất. Ông Thơ có phẩm chất của một chính khách và sự linh động của ông sẽ đánh bạt các nhược điểm của ông. Cũng quan trọng tương đương, là tuy chính phủ của Thơ và Minh có thể sẽ không hiệu quả như chính phủ ông Diệm, họ sẽ cho phép cố vấn Mỹ hoạt động sát cận với quân và dân VNCH, và như thế sẽ cho chúng ta cơ hội (mà phần lớn cơ hội này đã bị Diệm và Nhu bác bỏ) để tăng hiệu quả hoạt động của VNCH.
- Tướng Lê Văn Kim và Tướng Dương Văn Minh. Nếu Phó Tổng Thống Thơ từ chối hợp tác trong việc lật đổ ông Diệm (và không ai có thể nói là ông Thơ sẽ quyết định thế nào về việc đó, trừ phi ông ta nói ra), rồi thì sự kết hợp Tướng Kim (viên tướng thông minh nhất trong các viên tướng VNCH) và Tướng Minh sẽ là giải pháp thứ nhì. Hiện nay, Tướng Kim làm phụ tá cho Tướng Minh ở Bộ Tổng Tham Mưu, và Tướng Minh có thể đồng ý cho Tướng Kim nắm chính phủ và Tướng Minh nắm quân đội.
- Trần Quốc Bửu. Chủ Tịch Tổng Liên Đoàn Công Nhân Thiên Chúa Giáo (LND: Mendenhall ghi nhầm, đoàn thể của ông Bửu không có tính tôn giáo dù có người cho rằng hai chữ “Lao Công” hàm ý “Lao động Công giáo” , tên đúng phải là Tổng liên đoàn Lao công Việt Nam). Chỉ huy tổ chức quan trọng duy nhất tại VN nằm ngoàì kiểm soát của chính phủ, ông Bửu có phẩm chất của một chính khách tài năng, biết cách vận dụng quần chúng. Sát cánh với ông Nhu trong việc tổ chức Đảng Cần Lao thời kỳ đầu, ông Bửu không còn thân cận với nhà Ngô nữa, nhưng cũng chưa dứt lìa hoàn toàn. Chúng ta không rõ quan hệ của ông Bửu với quân đội VNCH, nhưng không ai biết điều gì cho tới khi thăm dò xem ý ông có sẵn sàng lãnh đạo một cuộc đảo chánh hay không.
|
Các rủi ro đối chiếu: Các rủi ro trong việc chuyển từ Diệm sang một giải pháp thay thế sẽ là lớn, vì quân Cộng sản có thể mạnh hơn trong lúc rối loạn (đặc biệt nếu khủng hoảng kéo dài). Nhưng điều này có thể ngăn cản, ít nhất là một phần, bằng cách để quân Mỹ can thiệp tạm thời trong khi khủng hoảng để không cho VC chiếm các thị trấn.
Cũng có rủi ro đảo chánh thất bại, với ảnh hưởng xấu trong quan hệ tương lai của chúng ta với Diệm. Nhưng ông Diệm không có chỗ nào để dựa, chỉ trừ tìm Mỹ để hỗ trợ.
Và rủi ro tràn ngập cần thấy là: phần chắc là sẽ mất VN vào tay Cộng sản nếu chúng ta gắn bó với ông Diệm.
4. Cách Nào Để Thực Hiện Đảo Chánh (2)
(Tôi chưa bao giờ thực hiện một cú đảo chánh, và cũng không phải chuyên gia lĩnh vực này. Tôi khuyến nghị một cách có thể làm như thế -- cách tốt nhất theo tôi thấy – nhưng có thể có cách khác tốt hơn.)
Nên giấu bàn tay của Mỹ tới mức tối đa có thể, trong cuộc đảo chánh đó. Chúng ta muốn tránh bất kỳ cái nhìn công chúng nào rằng tân chính phủ là búp-bê của chúng ta. Tuy nhiên, không nên để nỗi sợ bị lộ ngăn cản sự liên hệ ẩn tàng của chúng ta. Chúng ta sẽ luôn luôn bị tố cáo bởi một số liên hệ (y hệt như chúng ta đã bị quy chụp về nỗ lực đảo chánh tháng 11-1960 và vụ dội bom Dinh Tổng Thống tháng 2-1962) (3). Quy luật có tính nguyên tắc là, sẽ không thú nhận công khai về sự liên hệ.
Các viên chức Hoa Kỳ thích nghi sẽ lặng lẽ tiết lộ với vài viên chức VN đã chọn cẩn trọng (như ông Thơ và Tướng Minh) về khả thể của cuộc đảo chánh, và nếu cần sẽ bày tỏ lòng sẵn sàng hỗ trợ cuộc đảo chánh vào lúc thích hợp. Với khuyến khích như thế, một số viên chức VN đó sẽ mời một số người Việt khác tham dự. Liên lạc của Mỹ sẽ rất hạn chế để giấu vai trò của chúng ta. Chúng ta sẽ cố vấn sau hậu trường về việc tổ chức, và sẽ để người Việt thực hiện toàn bộ.
Mục tiêu sẽ là bắt giữ toàn bộ anh em nhà Ngô và bà Nhu, và để họ tức khắc ra khỏi VN nếu họ không bị bắt giữ. Tiến trình bắt giữ sẽ có thể dễ dàng hơn, khi Diệm và Nhu rời Dinh trong khi đi lại trong VN. Việc thực hiện sẽ tốt hơn, khi anh em ông Ngô Đình Thục (Tổng Giám Mục) và Ngô Đình Luyện (Đại sứ VN tại Anh) đang ở ngoài VN, bởi vì họ sẽ đơn giản bị từ chối nhập cảnh về lại VN. Nguyễn Đình Thuần (Bộ Trưởng Phủ Tổng Thống) và Trần Kim Tuyến (Chỉ huy Mật Vụ) sẽ bị bắt giữ để khỏi chống lại đảo chánh, nhưng có thể được thả ra sau khi đảo chánh hoàn tất bởi vì không chắc họ sẽ nguy hiểm thực cho chính phủ mới hay không.
Bởi vì quân đội là quyền lực thực sự duy nhất tại VN, nên sẽ cần sắp xếp trước để hỗ trợ đảo chánh càng nhiều đơn vị chính yếu càng tốt. Cần dè dặt khi tìm quá rộng rãi sự hỗ trợ [từ nhiều đơn vị như thế], nhưng vì các kế hoạch bắt giữ gia đình họ Ngô có thể bị hỏng từ đầu, việc dè dặt nên quân bình với nhu cầu sử dụng quân lực rộng lớn và để đạt mục tiêu là không cho gia đình nhà Ngô cơ hội kêu gọi các đơn vị quân đội chính yếu về giảỉ cứu.
Hoa Kỳ nên sẵn sàng đưa quân tác chiến vào Nam VN để ngăn cản việc VC chiếm các thành phố trong khi khủng hoảng. Nếu cần thực hiện bước này, Hoa Kỳ nên công khai loan báo sự trung lập, không thiên lệch về ai trong các lực lượng chống Cộng ở VN. Chúng ta không nên bị ngăn cản khỏi bước này chỉ vì không có yêu cầu từ phía chính phủ VN.
Thời điểm đảo chánh cực kỳ quan trọng. Cuộc đảo chánh nên thực hiện khi có khuynh hướng hiển lộ công khai kình chống chính phủ ông Diệm trong cuộc chiến chống Cộng, bởi vì có thêm nhiều người Việt về mặt tâm lý đã sẵn sàng để ủng hộ đảo chánh trong hoàn cảnh này. Cũng không nên kéo dài thời gian giữa việc lập kế hoạch đảo chánh rộng rãi với việc thực hiện đảo chánh, vì cơ nguy bị lộ. Tuy nhiên, như thế không có nghĩa là Mỹ có thể không làm việc bí mật với một số người Việt trong việc soạn kế hoạch đảo chánh một thời gian trước khi liên lạc rộng rãi và việc thực hiện.
Thân nhân của các viên chức Mỹ nên di tản ra khỏi VN trước khi thực hiện kế hoạch đảo chánh. Nếu không, chúng ta có thể thấy họ bị bắt làm con tin bởi chính phủ Diệm, và họ sẽ không do dự khi dùng con tin để áp lực chúng ta.
GHI CHÚ:
(1) Nguồn: Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, Hồ sơ Trung ương, 751K.00/8-1662. Mật. Được soạn và trình lên bởi Mendenhall.
(2) Kế bên tiểu đề mục này có ghi thêm “(Nghe như một việc rất phức tạp và khó giữ bí mật. ER).” (LND: Chữ viết tắt ER là tên ông Edward Rice)
(3) Về vụ thả bom tháng 2 vào Dinh Tổng Thống, nên xem các Hồ sơ 87-97; về hồ sơ đảo chánh tháng 11-1960, nên xem ở kho dữ kiện Foreign Relations, 1958-1960, vol. I, pp. 631 ff.
HẾT BẢN DỊCH
Xung quanh Biệt khu Hải Yến có lưới thép gai từ 5 đến 7 lớp. Trong có khu nhà ở từng dãy: Nhà cố vấn Mỹ, nhà bộ chỉ huy, nhà ở cho sĩ quan và binh lính, nhà làm việc hành chánh, nhà thờ, nhà chứa, nhà kho tàng, nhà tra tấn những người chúng tình nghi, nhà giam, khám tối, chợ, bệnh xá… hàng ngàn con người tạp chủng được Mỹ - Diệm trang bị theo cấp số ưu tiên một (muốn gì được nấy) nhiều năm tập trung trong biệt khu quân sự mang tên Én Biển, ngày đêm mưu toan dùng thi thể, gan, mật con người thí nghiệm cho một cuộc chiến tranh đơn phương phản khoa học, làm tiền đề cho Luật 10/59, loại những người đấu tranh cho sự nghiệp hòa bình thống nhất đất nước ra ngoài vòng pháp luật…
Đứng đầu bọn tội phạm chiến tranh này là Nguyễn Lạc Hóa. Vậy Nguyễn Lạc Hóa là ai?
Theo thẻ căn cước và sổ thông hành của đương sự: Nguyễn Lạc Hóa sinh ngày 28/8/1908 ở Bắc Phần (Việt Nam) trong gia đình người Hoa gốc Quảng Tây (Trung Quốc), con của ông Nguyễn Phương Ngôn và bà Linh Thị Chi, cư ngụ 144, Trần Hoàng Quân (Sài Gòn); tháng 3/1970 ở 256 Trần Hưng Đạo (Sài Gòn); tháng 12/1973 ở KBC 6.071, ở 207 Nguyễn Tri Phương, ở 104 Đại lộ Khổng Tử (Sài Gòn) và nhiều nơi khác… Nghề nghiệp linh mục. Học vấn (không rõ).
Theo lời kể của ông Hồ Bắc Sáng (người Việt gốc Hoa) lính pháo binh quân đội Diệm, có mặt ở khu Hải Yến (Bình Hưng) năm 1962: Nguyễn Lạc Hóa theo tiếng Tàu gọi là Vĩnh Lộc Hoa và em trai Nguyễn Tài Nghiệp tiếng Tàu gọi Vĩnh Thùi Niệp…
Là người cùng quê với ông ở Hải Ninh - tỉnh Quảng Tây. Nguyễn Lạc Hóa cùng du học với Ngô Đình Diệm, đỗ đạt linh mục. Khi Chính phủ Hồ Chí Minh tiếp thu miền Bắc năm 1954, Pháp rút quân, Nguyễn Lạc Hóa cùng số tàn quân Tưởng Giới Thạch chạy sang Campuchia làm ăn.
Campuchia bấy giờ theo chính sách trung lập, thiếp lập quan hệ ngoại giao với mọi chính quyền trên thế giới, hạn chế sự mất lòng với các cường quốc. Sự hình thành một khu định cư chiêu tập các tàn quân Trung Quốc Quốc Dân Đảng trên đất Campuchia dễ tạo ra mối xung đột với chính quyền Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa hùng mạnh. Vì vậy, năm 1957, Thủ tướng Norodom Sihanouk ra lệnh trục xuất các nhóm định cư Quốc dân Đảng của linh mục Hóa.
Nguyễn Lạc Hóa viết thư cho người bạn cũ Ngô Đình Diệm, bấy giờ đã là Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, xin được tị nạn và cùng hỗ trợ chống Cộng. Tổng thống Diệm đồng ý cho phép ông và các giáo dân qua Việt Nam định cư tại các khu dinh điền vào năm 1957, "trang bị" cho linh mục Hóa mọi phương diện, biến Hóa trở thành nhà quân sự chính thống với cấp bậc thiếu tá. Từ nhà tu bất đắc dĩ Hóa trở thành tên đồ tể giết người khét tiếng trong lịch sử chiến tranh Mỹ - Việt.
Cuối năm 1957, Hóa cùng 80 hộ dân theo đạo Thiên Chúa di cư đến Khu dinh diền Phú Mỹ ở hai bên kinh xáng Thợ May, xã Phú Mỹ, huyện Cái Nước và thành lập xứ đạo. Một thời gian sau, Hóa cho di dời nhà thờ và khu dinh điền Phú Mỹ về ấp Thanh Đạm, xã Tân Hưng Tây, huyện Cái Nước, thành lập Khu dinh điền Cái Cám. Cùng thời gian này, Hóa đưa trên 80 hộ dân di cư từ Quảng Nam đến khu vực kinh Mỵ Nương ở Cái Đôi Giữa, ấp Thanh Đạm, thành lập Khu dinh điền Bình Hưng.
Với sự hỗ trợ từ chính phủ Ngô Đình Diệm, với chính sách hỗ trợ giáo dân Công giáo định cư, tại các khu dinh điền Cái Cám và Bình Hưng, mỗi gia đình được 30 công đất, 1 con trâu, 2 lu đựng nước, 1 chiếc xuồng, gạo ăn 6 tháng và cất cho 1 căn nhà. Mỗi khu đều xây dựng một nhà thờ lớn, xây tượng Đức mẹ và thánh giá.
Quy mô của các khu dinh điền này ngày càng mở rộng khi tiếp nhận thêm 120 gia đình dân tộc thiểu số Trung Hoa. Năm 1958, với số dân cư khá đông và được kiểm soát chặt chẽ, quy củ và đủ điều kiện thành lập biệt khu quân sự, linh mục Hóa chủ động đề nghị Tổng thống Diệm chuẩn y xây dựng biệt khu trên cơ sở khu dinh điền Bình Hưng, lấy tên là Biệt khu Hải Yến.
Từ năm 1959 - 1960, linh mục Hóa được chấp thuận tuyển mộ để thành các trung đội địa phương quân. Tổng thống Diệm cũng đặc biệt ưu tiên cấp phát trang thiết bị, súng đạn, phục vụ cho việc xây dựng Biệt khu Hải Yến Bình Hưng. Linh mục Hóa cũng được Tổng thống Diệm phong làm Tư lệnh Biệt khu Hải Yến và đồng hóa với cấp bậc thiếu tá.
Biệt khu quân sự được xây dựng vững chắc với diện tích gần 80 ha, xung quanh có bờ thành bao bọc cao 1,2 mét, rộng 04 mét, trên bờ thành được bố trí nhiều chòi gác, phía ngoài có 5 – 7 hàng rào dây chì gai, có đóng đồn bót chốt giữ những nơi có đường giao thông huyết mạch để khống chế và kiểm soát mọi hoạt động của đối phương. Bên trong căn cứ là một hệ thống cơ quan dân sự và quân sự được trang bị khá hiện đại như: Sân bay, Sở chỉ huy, Cố vấn Mỹ, Nhà thờ, Khu gia đình, Trại giam, Bệnh viện và nhiều loại vũ khí hạng nặng, tàu tuần tiểu…
Tháng 1 năm 1961, trùm tình báo CIA Edward Lansdale đã thăm linh mục Hóa ở Bình Hưng. Khi trở về Washington, ông ta ngạc nhiên khi biết tổng thống Mỹ John F. Kennedy có mối quan tâm đối với cá nhân đối với báo cáo của ông về linh mục Hóa, và muốn báo cáo này được xuất bản trong Saturday Evening Post.[Al Santoli, To Bear Any Burden, Dutton, 1985, pp. 78-81] Bài báo viết về "một sĩ quan Mỹ."[An American Officer, "The Report the President Wanted Published,"Saturday Evening Post, May 20, 1961] Thị trấn Newburyport, Massachusetts đã quyết định chọn Bình Hưng là một cộng đồng kết nghĩa,[Don Schanche, "Last Chance for Vietnam", Saturday Evening Post, January 6, 1962] và Post đã tiếp theo với một câu chuyện khác về Hóa.[Don Schanche, "Father Hoa's Little War," Saturday Evening Post, February 17, 1962] Other correspondents who took up the story of the Sea Swallows included Dickey Chapelle[Dickey Chapelle, "The Fighting Priest of South Vietnam," Reader's Digest, July 1963] và Stan Atkinson,["The Village That Refused to Die"] người đã nhớ lại linh mục Hóa nhiều thập kỷ sau như "nhân vật đáng nhớ nhất" mà ông từng gặp trong các chuyến đi của ông.
Thành công của linh mục Hóa đã tạo cảm hứng cho các nhóm khác gia nhập Hải Yến, bao gồm nhóm người "những người bộ tộc Nùng." Tài liệu được giải mật tiết lộ rằng các chiến binh người Nùng thực sự là một đội ngũ chiến sĩ Quốc Dân Đảng Trung Quốc[George MacTurnan Kahin, Intervention: How America Became Involved in Vietnam, Knopf, 1986].
Ta hãy xem mối quan hệ giữa "linh mục" họ Nguyễn và nhà "chí sĩ" họ Ngô - tác giả của đạo dụ 57 cướp đất dân cày và Luật 10/59 sát hại lương dân. Đây là những dòng chữ chính Ngô Đình Diệm đương kiêm Tổng thống ngự tại Phủ Đầu Rồng, viết thẳng trên nhiều đơn từ, công điện, phiếu trình, thư tay của "cha Hóa" xin vũ khí và binh cụ chiến tranh.
Dưới bản đề nghị xin vũ khí, Hóa ký tên, bút phê nguệch ngoạc của Diệm như ta đã thấy: "Ông Hùng nói Tổng tham mưu cho liền, vì lúc này cần gấp". Ông Hùng mà Diệm chỉ thị qua bút phê này là Trung tá Lê Như Phùng - tự Như Hùng - Biệt bộ Tham mưu Tổng thống phủ, người kề cận để chấp hành và triển khai mọi mệnh lệnh của Diệm thời ấy.
Trong bản kê, Hóa xin 120 súng trường US17. Bút phê Diệm ghi thêm (180 súng trường US17-180 lưỡi lê US17)… Thật là "hảo tâm!".
Ở hàng dưới con số 180 Diệm vừa nhấn mạnh, phần II: "Vũ khí loại Mỹ hiện không được dự trữ dồi dào, Bộ Tổng Tham mưu phải vận dụng số lượng còn lại ở kho thêm vào số lượng mà MAAG gửi sang (MAAG đã gửi một số Carbine sang Việt Nam bằng phi cơ) để trang bị cho bảo an, các trung đoàn bộ binh đang thành lập và các đơn vị sắp được thành lập theo kế hoạch mới".
Văn thư "Kính Tổng thống phủ" ngày 26/4/1961 bộc lộ rõ chân tướng Nguyễn Lạc Hóa không phải là một linh mục làm sáng danh Đức Chúa và mang hòa bình cho người lành dưới thế như kinh Thánh giảng dạy, mà Thiếu tá Nguyễn Lạc Hóa đã bán linh hồn mình cho quỹ dữ, cùng với Diệm mưu cầu giàu sang, danh vọng qua cuộc chiến tranh đẫm máu nhân dân do Mỹ giựt dây.
Công điện khẩn ngày 27/1/1961: Nguyễn Lạc Hóa xin súng săn, chỉ ngày hôm sau (28/1/1961) bút phê Diệm ghi rõ cho loại gì, cho như thế nào, còn dặn thuộc cấp "cho súng tốt".
Phiếu trình Hóa viết tại Sài Gòn ngày 23/3/1961 gửi thẳng cho Tổng thống, xin cho vũ trang 2 chiếc tàu của Biệt khu Hải Yến: "Vụ hai chiếc tàu Hải Hưng và Hải An, chúng tôi đã được Tổng thống chấp thuận cho tiền tu bổ… Kính xin Tổng thống chấp thuận cho Hải quân trang bị hai chiếc tàu này, để chúng tôi cập thời có tàu để tuần phòng Duyên Hải của biệt khu".
Việc này rất khó cho Diệm vì trang bị tàu tuần cho Hóa là sai trái nhiều thứ quy định của quân đội Diệm hiện thời. Bút phê của Diệm đề: "Cách gì?", Trung tá hải quân Hồ Tấn Quyền có phiếu trình ngày 5/4/1961 phản ứng Diệm: "Sự kiện này chắc chắn sẽ gây nhiều khó khăn cho ta đối với Ủy hội quốc tế, mà trên phương diện quân sự sẽ không đem lại mấy lợi ích…"
Sự tồn tại của Biệt khu Hải Yến là một cái gai ngăn trở việc xây dựng căn cứ và phát triển lực lượng của những người Cộng sản tại Cà Mau. Nhân sự ủng hộ của những người dân bất mãn với sự lộng hành và tàn ác của các binh sĩ-giáo dân Biệt khu Hải Yến, các chỉ huy quân sự Cộng sản đã nhiều lần tiến hành các vụ tập kích vào các đồn thuộc Biệt khu, thậm chí kể cả chỉ huy sở biệt khu. Tuy nhiên, nhờ sự hậu thuẫn trực tiếp của Tổng thống Diệm, vốn ưu tiên trang bị vũ khí cho biệt khu và đã ra lệnh cho các đơn vị quân trong vùng phải ưu tiên chi viện, nên Biệt khu Hải Yến vẫn duy trì được sự tồn tại của mình, Hóa bị cáo buộc phạm các tội ác chiến tranh, đã dung dưỡng cho các binh sĩ dưới quyền thi hành những hành động tàn bạo đối với đối phương, thậm chí đối với dân thường bị nghi ngờ. Theo tài liệu thống kê tại Khu di tích Biệt khu Hải Yến, đã có 1.675 đảng viên, thường dân bị các binh sĩ Biệt khu Hải Yến giết hại bằng những biện pháp tàn bạo như dùng búa để đập đầu, chặt đầu, dùng dao, lê để mổ bụng lấy gan mật, cắt lỗ tai, thọc huyết…
Sau Đảo chính Việt Nam Cộng hòa 1963, mất đi người bảo trợ nhiệt thành, cộng với sự thiếu quan tâm của chính quyền mới, Biệt khu Hải Yến bị tấn công mạnh, dần dần thu hẹp vùng kiểm soát.
Năm 1965, Biệt khu Hải Yến có quân số dao động từ 1.200 - 1.800 quân, gồm: Tiểu đoàn bảo vệ, Thủy quân lục chiến, Bảo an, Thám báo, biệt kích Mỹ, Dân vệ, Phòng vệ dân sự, Bảo vệ hương thôn, Phượng hoàng, đội xây dựng nông thôn và 6 ban chuyên môn: Điều tra, Hậu cần, Hộ tịch, Hiến binh, Công binh, Giao thông, ngoài ra còn có hệ thống Tình báo, Gián điệp, Điềm chỉ, Mật vụ. Bình Hưng là chỉ huy sở, xung quanh Bình Hưng có 23 đồn như: Kinh Mới, Quảng Phú, Vàm Đình, Dinh Điền, Đường Cày, Cái Đôi Vàm, Sào Lưới, Cái Bát, Rạch Chèo, Tân Quảng, Gò Công, kinh Đứng, Hào Xuân, Thợ May, Ba Tiêm.
Giữa năm 1966, Tiểu đoàn U Minh 2 của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tiến hành phục kích và đánh tiêu diệt gần như hoàn toàn lực lượng chủ lực của Biệt khu Hải Yến. Sau thất bại này, chính quyền Sài Gòn ra lệnh giải tán Biệt khu Hải Yến, đưa các đơn vị còn lại sát nhập vào Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Linh mục Hóa trở về đời sống thuần túy tôn giáo, lên Sài Gòn làm công tác mục vụ.
Đến khoảng năm 1973, do tuổi già sức yếu cộng với sự bi quan về chế dộ Việt Nam Cộng hòa tham nhũng, thấy được sự bế tắc của "công cuộc chống Cộng" ở Việt Nam, linh mục Hóa xin được về Đài Loan tị nạn và chết năm 1989.
|
Nhớ ngày tiếp quản Chi khu Hải Yến Cập nhật ngày: 02/05/2014 09:39:05 |
|
Lên cơ quan Huyện uỷ Cái Nước công tác năm 14 tuổi, làm thư ký đánh máy văn phòng hơn 2 năm, cận kề ngày giải phóng, tôi được giao phụ trách thông tin điện đài, cảm thấy thích thú vô cùng. Vì đó là nhiệm vụ quan trọng, được lãnh đạo tin tưởng. Qua truyền đạt của các anh Tư Ân, anh Hoàng và anh Hoàng Anh ở Thông tin điện đài Huyện đội Cái Nước, tôi học cách giải mã các nhóm chữ số vừa nhận được điện và ngược lại một cách nhanh chóng. Ngoài trực điện đài, tôi còn làm nhiệm vụ đánh máy giúp chị Huệ ở văn phòng.
Cuối tháng 3 và giữa tháng 4/1975, Văn phòng Huyện uỷ luôn tất bật công việc. Chúng tôi tổng hợp tin chiến thắng, thông báo đến các xã, các cơ quan, đơn vị trong huyện, kèm theo phác hoạ sơ đồ chiến sự, diễn biến từ Buôn Ma Thuột đến Huế - Đà Nẵng… Tin chiến thắng dồn dập, nức lòng đồng bào cả nước, đưa đến chiến thắng vang dội, giải phóng Sài Gòn trưa ngày 30/4/1975. Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng!
|
Cầu Vĩnh Biệt - một chứng tích man rợ của Biệt khu Hải Yến - Bình Hưng, đến sau giải phóng, người dân vẫn còn trào dâng sự căm thù nên đập phá nó đi, giờ chỉ còn lại thế này. Ảnh tư liệu |
Tỉnh uỷ điện khẩn, chỉ đạo cho Huyện uỷ Cái Nước bố trí lực lượng tiếp quản khu Bình Hưng và cứ điểm Đồng Cùng. Chú Hồ Văn Bỉ (Năm Lài), Phó Bí thư Huyện uỷ Cái Nước, chỉ đạo văn phòng và Ban An ninh huyện cho 2 chiếc vỏ lãi gắn máy BS-9 theo hướng chợ Cái Nước trở vô ngọn, vòng quanh chạy xuống địa bàn xã Tân Hưng Tây rộng lớn thời chiến tranh.
Được lệnh mang theo một ăng-ten dù máy PRC-25 đang sử dụng, tôi đi cùng chú Năm với anh Nguyễn Văn Hai (Hai Minh), Chánh Văn phòng Huyện uỷ; anh Trần Văn An (Định), bảo vệ chú Năm; anh Hảo, chiến sĩ đội phòng thủ… Khi đến Cái Bát, trời đã tối. Trong lúc chú Năm làm việc với Xã uỷ Tân Hưng Tây, tôi dựng ăng-ten dù, dò tìm sóng điện đài Chi khu Bình Hưng đến nửa đêm vẫn không gặp. Tôi bực cái thằng truyền tin chi khu trốn đâu biệt vô âm tín, nhưng sau này nghĩ lại, lúc đó chế độ Sài Gòn sụp đổ rồi, thằng chi khu còn biết liên lạc với ai mà mình tìm.
Sáng sớm ngày 1/5/1975, chiếc vỏ lãi chạy ra sông Quảng Phú, ghé vào một tiệm tạp hoá cách chi khu vài cây số, tôi gắn ăng-ten 7 đoạn tiếp tục dò tìm. Ngay lúc đó, dưới sông có một chiếc xuồng gắn máy Kole 4 từ hướng chi khu chạy đến, vài người mặc thường phục ngồi trên xuồng. Bà con cơ sở cho biết, đó là mấy tên tề xã. Ta gọi họ ghé lại, chú Năm hỏi vài điều… Sau đó, chú đưa tôi tấm giấy ghi sóng điện đài chi khu. Tôi chỉnh đúng sóng đã ghi, gọi một lúc thì có tín hiệu. Tôi hỏi:
- Phải điện đài Chi khu Bình Hưng không?
- Đây là Phòng Truyền tin Chi khu Hải Yến - trong máy có tiếng trả lời.
- Anh cho gặp Thiếu tá An.
- Xin chờ máy.
Tôi reo lên: “Đúng rồi, chú Năm ơi!”. Tôi đưa tổ hợp máy cho chú Năm. Sau khi bắt được liên lạc, tôi nghe chú Năm nói vào máy:
- Tối chúng tôi sẽ đến gặp các anh làm việc cụ thể hơn. Đề nghị các anh gom toàn bộ súng ra sân, tập hợp binh sĩ thành hàng dọc và giương cờ trắng lên.
Chú Năm trao đổi với các anh trong đoàn một lúc rồi lệnh cho chúng tôi xuống vỏ lãi chạy thẳng ra chi khu. Hai chiếc xuồng máy cặp bến trước cổng đồn. Không thấy hàng dọc lính nào, cũng không có cờ trắng như quy định. Cảnh tàn cuộc chiến trông thảm bại. Hai khẩu pháo 105 ly trơ nòng. Hàng chục khẩu súng bị vứt ngổn ngang ở khoảng sân, gần cột cờ. Chúng tôi gần chục người cùng chú Năm đi thẳng vào đồn, bên trong chỉ thấy vài tên sĩ quan đang chờ cách mạng đến và cũng chỉ còn vài tên lính ở lại đây.
Trong lúc chú Năm và các anh trực tiếp tiếp nhận sự đầu hàng của mấy tên sĩ quan chi khu. Mang máy PRC-25 nên tôi chú ý và đi thẳng vào phòng truyền tin, thấy một khẩu súng M16, nhiều máy PRC-25 và các loại máy thông tin khác, sau mới biết là máy PRC-9 và PRC-10. Tôi gỡ ngay 1 máy PRC-25 còn mới, mở hộp thay vào cục pin khối mới, gắn vào giá máy sẵn - nếu có lệnh cần đi đâu, tôi sẽ xách thêm máy mới này. Tôi nghĩ bụng: “Tụi nó xài sang, toàn máy mới, pin khối đặc chủng, còn mình xài 12 cục pin con ó nên mau hết pin…”.
Tên Thiếu tá An, Chi khu trưởng Hải Yến, cùng mấy tên cấp uý khác có yêu cầu bàn giao toàn bộ vũ khí Mỹ cho lực lượng cách mạng, gồm 2 khẩu pháo, hơn 100 khẩu súng các loại, nhiều đạn dược và mấy vô tuyến điện ở chi khu này.
Đến trưa, nhìn bên sông phố chợ Cái Đôi Giữa, hàng chục thanh niên mặc quần ống loa, áo sơ mi bông, sọc đủ kiểu thản nhiên đi vào đồn. Tôi thắc mắc: “Sao không ai ngăn số thanh niên này để họ vào đồn càng đông vậy?”. Hồi sau biết, đó là lính chi khu tự tan rã, vừa cởi bỏ quân phục, được gọi trở lại đồn.
Chi khu Hải Yến còn 1 Tiểu đoàn Bảo an với hơn 100 quân, đang lao nhao tập hợp, đứng thành nhiều hàng không chỉnh tề, cười nói râm ran, có người đá chân vào mấy khẩu súng M16, Carbine mà nói:
- Súng bây giờ như củi bỏ đầy…
Một tên cấp uý bước ra nói:
- Các anh em ổn định, nghe chỉ huy nói chuyện.
Nhìn chú Năm Lài tóc bạc trắng, dáng cao gầy, mặc đồ bà ba đen, không giống sĩ quan chỉ huy, trong số họ có người tỏ ra xem thường. Có người còn mang kính đen, tay thọt túi quần, chân đứng nhịp nhịp, mặt vênh váo… Tên Thiếu tá An chỉ huy, bước lên phía trước nói:
- Thưa các anh em! Cuộc chiến nào cũng đến hồi kết thúc. Hôm nay chiến tranh kết thúc. Chi khu Hải Yến phải bàn giao cho cách mạng. Từ nay cách mạng quản lý chi khu. Các anh em được về gia đình. Sau đây mời Thiếu tá Dũng nói chuyện với anh em…
Chú Năm Lài bước lên, đưa tay ra dấu như để gây chú ý, rồi dõng dạc nói:
- Thưa anh em sĩ quan, binh sĩ, Thiếu tá Dũng, Huyện đội trưởng được tôi phân công đi làm nhiệm vụ nơi khác. Thay mặt Uỷ ban Nhân dân cách mạng huyện Cái Nước, tôi nói chuyện với anh em…
Hiệp định Paris chấm dứt chiến tranh và lập lại hoà bình ở Việt Nam được 4 bên ký kết từ ngày 27/1/1973. Nhưng do chính quyền Sài Gòn vi phạm hiệp định, cố tình phá hoại việc thực hiện hoà giải và hoà hợp dân tộc. Đầu năm 1975, quân giải phóng miền Nam tấn công thần tốc giải phóng Tây Nguyên và các tỉnh miền Trung… Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. Sài Gòn được giải phóng. Trưa ngày hôm qua, 30/4/1975, Tổng thống Dương Văn Minh đã tuyên bố đầu hàng vô điều kiện Quân giải phóng miền Nam. Chế độ Sài Gòn đã sụp đổ. Chi khu Hải Yến đã giải phóng. Tất cả anh em binh sĩ được tự do trở về nhà. Và khi cần, chính quyền sẽ thông báo tập trung học tập cải tạo, anh em học tập tốt sẽ trở thành người có ích và sớm sum họp gia đình…
Khi chú Năm nói chuyện, tất cả họ đều lắng nghe, có người lột kính đen cầm tay, đứng lặng im, sắc mặt tái dần. Sau khi hoàn tất đăng ký vào danh sách, họ cùng lê bước chậm chạp, ra về…
|
Đài tưởng niệm khu di tích Biệt Khu Hải Yến - Bình Hưng. Ảnh: MINH TẤN |
Chị Út Bảnh, năm đó là Phó Ban Tuyên huấn huyện Cái Nước, nhớ lại ngày đang trên đường đi chiến dịch giải phóng thị xã Cà Mau, ra gần tới Rạch Rập thì được lệnh ngay lập tức quay trở về tiếp quản Chi khu Hải Yến. Mấy chục cán bộ các cơ quan, ban, ngành huyện đi cả chục chiếc xuồng phải cấp tốc lớp chèo, lớp bơi suốt đêm về tới Cái Đôi Giữa. Gánh Tuyên huấn tiếp quản chi thông tin quận của giặc, chị Út Bảnh nói: "Khi đến nơi, tụi nó bỏ trốn hết, không còn thằng lính nào ở đây".
Cứ điểm này có nguồn gốc là Biệt khu Hải Yến - Bình Hưng trực thuộc phủ Tổng thống ở Sài Gòn, khét tiếng là sát sinh của bọn Tào Phù từng giết người man rợ như: chặt đầu, mổ mật, moi gan, khoét mắt, ăn thịt người, hãm hiếp… gây vô vàn tội ác đối với đồng bào ta. Sự căm thù của Nhân dân cao độ, giữa những năm 60 đến sau Hiệp định Paris 1973, với nhiều trận đánh, các lực lượng vũ trang cách mạng đã tiêu diệt, xoá sổ bọn Tào Phù. Từ biệt khu, bọn giặc chuyển thành Chi khu Hải Yến trực thuộc Tiểu khu An Xuyên (Cà Mau) và rút bỏ vị trí Bình Hưng, dời vô Cái Đôi Giữa như tàn quân, mất nguồn tiếp tế, cho đến ngày giải phóng hoàn toàn 30/4/1975./.
Trần Văn Út
|
|
|
“Xứ đâu thị tứ bằng xứ Kinh cùng
Tràm xanh củi lụt, anh hùng thiếu chi...”
Nói lên tình nghĩa của những người đồng cảnh ngộ:
“Cũng là phiêu dạt theo nhau
Về đây chót mũi Cà Mau gặp cò...”
Nghe câu hát ru, nhìn từng đàn cò trắng đậu kín rừng đước; mãi cho đến sau này khi đã trưởng thành, Trầm chẳng bao giờ quên những năm tháng ấy.
Một nhà báo tố cáo với dư luận:
“... Những ngày đen tối nhất ở miền đất cuối cùng này với các cuộc càn quét, bắn giết cực kỳ dã man diễn ra liên miên. Ngô Đình Diệm sử dụng tên ác ôn khét tiếng Nguyễn Lạc Hóa, nguyên là tàn quân của Tưởng Giới Thạch đội lốt thầy tu. Hóa xây dựng “Biệt khu Bình Hưng”, suốt ngày cho quân vây bố, hãm hiếp phụ nữ rồi chặt đầu, mổ bụng, moi gan. Có ngày, hàng chục người bị giết, bêu đầu giữa chợ. Gia đình ông Tám Sồi có chín người, chúng giết một lúc bảy người, chỉ có hai người trốn thoát...”.
“... Ở Đầm Dơi, chúng giết một lúc mười chín người. Ở Vàm Đình, chúng mổ bụng bốn người, bắt cả ngàn đồng bào chứng kiến. Chúng bắt phụ nữ, đóng đinh chân tay vào cây thập tự rồi cho cả tốp lính hiếp tới chết. Hai thanh niên bị chúng nhốt trong lu nước rồi đổ nước sôi đóng nắp lại. Trong một đêm, ở Sông Đốc, chúng chặt đầu, mổ bụng lấy tim gan mật của tám người rồi thả xác trôi sông, trong số này có chị Danh Thị Tươi, ba mốt tuổi, là mẹ của bảy con nhỏ, một con còn đang bú. Bên bờ kinh xáng Đội Cường, chúng bêu mười đầu thanh niên và hàng chục bàn tay đã bị chặt cụt hết ngón...”.
Chúng tự hào về Biệt khu Bình Hưng. Ngô Đình Diệm kêu bằng “Biệt khu Hải Yến” bất khả xâm phạm. Bọn Mỹ gọi đó là “ngôi sao của thế giới tự do”. Còn đối với đồng bào ta, đó là địa ngục trần gian Mỹ - Diệm - Tưởng. Tội ác của chúng chồng chất vẫn không khuất phục được ý chí của người dân Đất Mũi. Đồng bào chở che cho du kích đánh giặc đêm ngày trên sông, trong thị trấn, tận sào huyện của giặc.
Một chiếc xuồng máy của bọn Bình Hưng bị đánh chìm trên đoạn sông uốn cong hình đuôi tôm. Chúng phát hiện ra hai du kích chạy về hướng Xẻo Đước. Nguyễn Lạc Hóa cho quân lục soát cả buổi mà không bắt được Việt Cộng. Chúng sục vào nhà Hai Mắm. Hai Mắm cùng cánh đàn ông trong ấp đi biển chưa về, Đước và Trầm đi học ở thị trấn. Chúng bắt Hường cùng sáu phụ nữ đem về Biệt khu Bình Hưng dâng cho Nguyễn Lạc Hóa. Năm ấy, Hường ba chín tuổi nhưng chị còn rất trẻ, đẹp mặn mòi. Bọn lính lùa bảy chị em xuống xuồng máy cùng với cả đống tôm cá khô, rượu, gà mà chúng vơ vét được. Nhân lúc chúng say sưa nhậu nhẹt, Hường cùng sáu chị em nhảy xuống sông. Ba người bị bắn chết ngay trên mặt sông. Ba người khác bị bắt lại và bị hãm hiếp đến chết ngay đêm hôm ấy. Duy chỉ có Hường nhờ giỏi lặn nên may mắn trốn thoát trong rừng đước. Chị cắt rừng mà đi, đi ra hướng biển. Chị đi suốt đêm, khúc sông nào cũng có bọn Nguyễn Lạc Hóa vây ráp. Đến tảng sáng, chúng phát hiện ra chị. Chị chạy đại vào rừng đước. Đây là khu rừng cổ thụ, đã bị khai thác hết cây lớn, chỉ còn lại cây nhỏ mươi năm tuổi. Hường nghe súng nổ quanh mình. Chị cắm đầu chạy. Trong đầu chị hiện lên hình ảnh Hải và con thuyền neo ở hòn đảo nhỏ ngoài khơi giữa đêm trăng mênh mông trời biển. Cái đêm họ hòa với nhau làm một, cái đêm tuyệt vời trước ngày hai vợ chồng tìm đến xứ rừng đước lập nghiệp. Hiện lên hình ảnh hai đứa con trai từ bốn giờ sáng đã thức dậy ăn cơm để chèo xuồng đi học. Cả hai giống cha như đúc. Thằng anh lầm lì hơn em. Trầm thì đa cảm, nó giống chị, hay thương người. “Phải thoát! Thà chết chứ không để rơi vào tay lũ mặt người dạ thú”. Chị tự nhủ và gắng sức vượt lên. Trước mặt chị là khu rừng lầy thụt. Đước ở đây rất to, có cây hai người ôm; vậy mà không ai dám vô đến, vì xen kẽ trong rừng đước có những bãi bùn thụt. Ai rớt xuống đó là bị chìm nghỉm ngay tức khắc.
Bọn giặc đã đuổi rát phía sau. Không còn đường chạy nữa rồi. Hường nhắm mắt lao vào khu rừng thụt. Chị kịp chui vào bộ rễ của cây đước lớn nhất và nhận ra khoảng cách rất đều nhau theo hình ngôi sao còn bốn cây đước lớn như cây mà chị đang núp. Nghe rõ tiếng giặc la hét:
- Nó kia rồi!
- Bắn chết mẹ nó cho rồi! Chớ có dại mà vô rừng này, chết chìm trong sình đó!
Một tên giặc nâng khẩu súng lên, nó bóp cò, hết một băng đạn. Chị tắt thở. Hai bàn tay bám chặt lấy rễ đước, đôi mắt rực lên căm thù cứ mở trừng trừng...
Hai Mắm cùng bà con trong ấp Xẻo Đước mai táng Hường ở ngay điểm giữa của năm cây đước cổ thụ hình ngôi sao năm cánh. Trầm khóc hết nước mắt. Trong khi đó, mắt Đước ráo hoảnh, cả tuần liền Đước lặng câm, không nói một lời.
Đước trốn ba, đi theo du kích, trước khi đi chỉ viết lại mấy dòng: “Ba ơi! Đau thương và căm thù quá đỗi, con lén Ba ra đi để trả thù cho Má! Ba ráng lo cho thằng Trầm học. Sau này nó sẽ đỡ khổ! Con thương Ba, nhưng con phải đi. Ba đừng giận con! Dù cho rừng này hết đước thì con cũng không quên mối thù này!”.
Năm ấy, Đước tròn mười chín tuổi. Hai Mắm đã tròn năm mươi.
*
* *
Năm 1960, Lê Văn Đước dẫn tiểu đội du kích của mình cùng với lực lượng của tỉnh, tấn công bọn “Tàu phù” Nguyễn Lạc Hóa. Đước trả được mối thù cho mẹ. Biệt khu Bình Hưng tan rã, ta bắt sống bảy chục tên, thu được toàn bộ vũ khí. Ấp Xẻo Đước có phân nửa số hộ bỏ ấp vô rừng lập thành làng rừng. Ông Hai Mắm và một số bà con trụ lại vừa lo sản xuất, vừa lo tiếp tế cho làng rừng.
Đước vừa là bí thư chi bộ của làng rừng, vừa phụ trách du kích. Gan dạ đến liều lĩnh, Đước lặn lội khắp vùng tìm giặc mà đánh. Tháng chín năm 1963, anh tham gia tấn công tiêu diệt Chi khu Đầm Dơi và Chi khu Cái Nước. Hãng Roitơ ngày 12-9 nói rằng:“Việt Cộng đã biến sở chỉ huy Đầm Dơi thành một cái nhà xác thực sự”. Cuối năm ấy, anh được Văn Bông tuyển vào đoàn vận tải quân sự theo đường Trường Sơn trên biển.
Bốn năm trời, vừa đánh giặc, vừa xây dựng làng rừng, Đước đã học xong chương trình trung học mà anh bỏ dở để đi theo du kích. Vào đoàn vận tải quân sự, ngay từ chuyến vượt biển ra Bắc đầu tiên, Đước đã tỏ ra là một thủy thủ dày dạn kinh nghiệm đi biển. Năm 1966 anh làm thuyền phó. Năm 1968 là thuyền trưởng. Hành trình của tàu Hai Đước từ Đất Mũi đến Hải Phòng và ngược lại. Từ Hải Phòng, theo ven biển Nam Trung Hoa, qua đông bắc đảo Hải Nam, rẽ tay phải trực chỉ hướng nam, qua phía đông quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa, qua phía nam Côn Đảo, rồi ngoặt vào cửa sông Đất Mũi. Đó là tuyến thứ tư, tuyến dài nhất của đường Trường Sơn trên biển.
Năm 1968, ông Lê Văn Hải mua nhà ở Sài Gòn cho Trầm lên đó ăn học. Đến năm 1974, Trầm tốt nghiệp, cùng lúc nhận hai bằng đại học. Đồng thời với tin vui ấy, ông Hải mua đất, xây dựng một xưởng đông lạnh tại Sài Gòn. Đước hiểu rằng, đây là đỉnh cao nhất mà một ngư dân tài giỏi như ba anh đã đạt được. Anh đâu có ngờ rằng, niềm vui ấy, vài năm sau biến thành đại họa, làm tan nát gia đình anh...
Năm 1975, Đước tham gia giải phóng Côn Đảo, rồi ở lại xây dựng đảo. Anh luôn nhận được thư của ba và của em trai. Ông Hải động viên Đước cứ yên tâm công tác. Anh kính phục ba đã nuôi được Trầm, không bị bắt lính và học được hai bằng đại học. Cuối năm 1975 anh về thăm nhà. Cha con gặp nhau ở căn nhà cũ đầy kỷ niệm tại ấp Xẻo Đước. Đước đi thăm mộ má, rồi trở ra đảo ngay, không lên Sài Gòn thăm Trầm được. Đầu năm 1976, nhân một chuyến biển, ông Hải đích thân lái tàu ghé Côn Đảo thăm con. Ông nhắc Đước, nếu chỉ huy bộ đội làm kinh tế thì phải lo nuôi vích. Côn Đảo nhiều vích vô cùng. Phải nuôi vích xuất khẩu. Côn Đảo phải trở thành hòn đảo làm mọi dịch vụ biển.
Bọn Pônpốt gây chiến tranh ở biên giới Tây Nam. Đơn vị của Đước đi án ngữ ở đảo Thổ Chu, bảo vệ vùng biển Tây Nam Tổ quốc. Bẵng đi một thời gian dài, Đước không hề nhận được thư nhà. Đến cuối năm bảy mươi tám, anh được chuyển ngành về Sở Thủy sản. Theo nguyện vọng, anh được cử về phòng thủy sản Mỏ Tôm. Lúc này, anh mới hay rằng ba anh đã bỏ đi biệt tích.
Căn nhà ông Hải mua từ năm sáu mươi tám nằm ở mặt tiền, bên hông nhà là con hẻm sâu hun hút đi vào khu phố nghèo nổi tiếng: khu Cống Bà Phán. Từ ngày ông Hải cho Trầm lên ăn học, Trầm đã quen và thân với Chuẩn, bạn học cùng lớp. Nhà Chuẩn ở ngay phía sau căn nhà của Trầm. Cũng như hầu hết những gia đình phải sống chui rúc trong khu Cống Bà Phán, nhà Chuẩn rất nghèo. Ba má Chuẩn làm công nhân ở Sở Vệ sinh. Ba Chuẩn bị tai nạn xe hơi, chết lúc má Chuẩn vừa sinh đứa con gái út. Chuẩn là con trai đầu. Đứa em gái kế Chuẩn mắc bệnh chết khi tròn sáu tuổi. Sinh con gái út được một tháng thì tự nhiên má Chuẩn lâm bệnh nặng rồi lòa cả hai con mắt. Chuẩn thi rớt tú tài, phải đi lính. Nhờ có Trầm, Chuẩn biết tiếng Anh, nên được làm phiên dịch ở phi trường Tân Sơn Nhất. Chuẩn được tụi Mỹ cho hút thuốc lá có tẩm xì ke, rồi mắc nghiền. Ngày hòa bình, Chuẩn nói Trầm: “Tao chết vì nghiền quá rồi, Trầm ơi!”.
Trầm đưa Chuẩn vào cai xì ke ở Trung tâm Bình Triệu, rồi tìm mọi cách giúp bé Tư mới mười lăm tuổi nuôi bà mẹ mù lòa. Bé Tư rất xinh, đặc biệt là mái tóc dày, dài, đen huyền, đôi môi đỏ thắm.
Hai Đước bước vào nhà, không thấy Trầm ở nhà. Căn nhà vắng vẻ, sạch sẽ. Bé Tư thấy khách đến nhà Trầm, vội chạy tới. Cô nhận ra Đước ngay vì Đước và Trầm rất giống nhau. Nhiều lần Trầm đã kể cho bé Tư nghe về người anh của mình. Bé Tư mở cửa mời Đước vào nhà, đon đả:
- Chú bộ đội kiếm anh Trầm phải không?
- Phải, Trầm có nhà không cô?
- Dạ thưa, anh Hai cháu đi vắng. Chú là anh Hai...
- Tôi là anh Hai của Trầm!
- Ô! Chú là anh Hai Đước? - Cô bé reo lên! - Anh Hai cháu kể cho cháu nghe hoài à! Hèn chi, ngó chú giống ghê! Cháu nhận ra liền à! Mời chú vô!
Út Tư líu lo như chim, mừng rỡ như chính anh ruột của mình đi xa mới về.
Hai Đước xem xét phòng trong phòng ngoài căn nhà: Đồ đạc không có gì ngoài sách. Cả một phòng đầy sách. Anh giật mình khi nhận ra dòng chữ của Trầm đề dưới tấm ảnh cha: “Ngày 18... tháng mười hai”. Ủa! Ngày giỗ má! Sao Trầm lại ghi ngày giỗ má vào dưới tấm ảnh của cha?
Có tiếng xe Honda lao vào sân, rồi Trầm ùa vào như cơn lốc.
- Anh Hai!
- Trầm!
Họ ôm nhau. Trầm nức nở:
- Anh Hai ơi! Ba... đi mất rồi!...
Bé Tư đứng sững nhìn cảnh gặp gỡ. Khi nghe Trầm đau xót báo tin, cô cũng vụt khóc òa lên.
“... Ba rất mừng khi ngày hòa bình đến với quê hương. Ba trẻ lại trước những điều ba mong ước về tương lai của xứ sở. Ba đã rất hồ hởi khi Trầm đọc cho ba nghe Nghị quyết về đường lối chính sách cải tạo, về cái gọi là cùng tồn tại năm thành phần kinh tế... Nhưng ba đã lầm! Ôi! Thật đau xót. Các con ơi! Không có gì đau xót hơn lúc đã gần kề thế giới bên kia rồi mà còn lầm! Không lẽ cả cuộc đời ba lao động lương thiện, nay kết thúc như vậy sao?
Nhưng nếu ba không lầm? Mà chắc chắn là ba không lầm đâu các con! Thế thì phải có một phía lầm chứ! Người trưởng đoàn đến cải tạo ba là ai? Hắn ta nhân danh ai? Ba không tin người ấy, các con ạ. Hẳn các con còn nhớ, má các con thường hát ru: “Trời xanh, cây cứng, lá dai. Gió lay mặc gió, chiều ai ta chẳng chiều”, và cha mẹ đặt tên các con là Đước, là Trầm. Bà con ngư dân ấp Xẻo Đước đặt tên ba là Hai Mắm. Cha mẹ của ba, tức là ông bà nội các con, đặt tên ba là Hải. Ôi những cái tên gửi gắm bao nhiêu khí phách và tình thương yêu...
Tái bút: Ba nhắc Trầm không được viết thư báo tin cho anh con. Hãy để cho anh con yên lòng làm nhiệm vụ. Khi nào Đước về phép, hãy cho anh con biết. Nhớ lời ba!”.
Hai Đước đọc đến thuộc lòng lá thư của ba. Anh bắt Trầm thuật lại từng chi tiết nhỏ từ ngày ông Hải tự nguyện nộp đơn xin hiến tài sản cho Nhà nước, đến ngày ông ra đi...
- Lá thư cuối cùng của ba mà anh nhận được đề ngày mười bốn tháng mười năm bảy mươi sáu. Trong thư ấy, ba báo tin là tình hình sản xuất của xưởng đông lạnh rất khả quan. Nhờ mối quan hệ thân thiết với bà con ngư dân, nhờ ba duy trì được hệ thống đáy và ghe tàu đánh bắt, nên nguyên liệu từ Mỏ Tôm đưa về kịp thời, sản lượng đảm bảo như trước tháng tư năm bảy mươi lăm. Ba nói rằng, giới tư sản ở Sài Gòn đang hoang mang ghê lắm! Riêng ba, chỉ là một tiểu chủ, ba có ý định hiến toàn bộ xưởng đông lạnh cho Nhà nước. Ba hỏi ý kiến anh. Anh đã viết thư trả lời, nói rõ ý với ba...
- Em có đọc lá thư ấy. - Trầm nhìn Đước, giọng thật buồn - Ngay từ đầu, ba, em và anh đều nhất trí với nhau về chuyện hiến xưởng đông lạnh; vậy mà người ta đáp lại tấm lòng của gia đình mình bằng thái độ trắng trợn đến vậy. Ba nói với em: “Một người lao động chân chính như ba vẫn có thể làm ăn phát đạt. Nhưng bây giờ... Ai làm giàu là có tội!”.
(còn tiếp)
Nguồn: Trả giá. Tiểu thuyết của Triệu Xuân. NXB Văn học, in lần thứ 8 năm 2007.
Gởi anh Nguyễn Tuân
Anh mà nhận lá thư này của tôi được phát qua Đài phát thanh Giải phóng, chắc anh ngạc nhiên rồi thốt lên: "Lạ quá!"
Vâng, tôi đả đọc bày ký của anh trong một đêm tối trong rừng đước, dưới ánh sáng của ngọn nến trắng. Và biển ở gần sát đó cứ ầm ầm như có trận dông lớn đang đi tới. Biển của mũi đất mà anh đã ví như "ngón chân cái chưa khô bùn vạn dặm" ấy.
Anh Tuân ạ! Sau lúc đọc bài của anh, tôi đã đặt tờ báo Văn Nghệ số 12 năm 1963 đó lên ngực mà suy tưởng, mà ngẫm nghĩ, mà cảm động vô hồi. Bởi vì anh nói với nhân vật Lý, Trần, Lê của anh rằng: anh chưa hề đặt chân tới Cà Mau bao giờ. Nhờ địa lý và lịch sử, nhờ tiếp xúc với những anh như Lý, nhất là nhờ tình yêu của anh dành cho mũi Cà Mau mà anh viết lên những chữ nói về đất, về nước, về lò than, về cây đước, về những con người cầm súng đứng dậy ở đây. Anh cũng nói khá sát, khá đúng. Lâu nay tôi tưởng chẳng có anh nào ở miền Bắc hiểu nổi giá trị của một ca nước ngọt ngày nắng hạn ở nơi đây. Tôi cứ tưởng các anh chỉ có thể nghe nói tới cái địa danh Thới Bình, chớ không thể nào biết ở đó có một ngã ba sông. Với lại các anh thì làm sao biết được cái bầu trời ong ong tái tái chỉ có chốn cuối đất này mới có. Tôi cảm động chính là vì anh nói đến mọi thứ đó, những cái mà ở đây hầu như chúng tôi nghỉ tới nó hàng ngày, là mùi bùn bốc lên từ các bãi bồi, là vị muối trong hơi thở của các con kinh ăn ra biển cả, là vị ngọt cùa ca nước ngọt từ sông Hởu chở đến trong tháng nắng, là đất phân U Minh dày hai, ba thước, mùa khô thường cháy ruỗng bên dưới. Tôi cảm động hơn nữa là vì nhận ra sức mạnh của văn học vời tình yêu không nén nổi, nó đã cất lên cái tiếng nói ứng nghiệm lạ thường. Anh Tuân! Anh đã nghe nói tới cái lò thanh Năm Căn và cũng đã hình dung ra làn khói thoát ra từ các lò than ấy. Xin báo thêm cho anh biết: ngay bây giờ trong cuộc chiến đấu, các dãy nhà lò ở Năm Căn ngày đêm vẫn đỏ hồng củi đước. Muốn cho cây được trở thành than, công việc đầu tiên là chuyển cây đước ở rừng về, rồi cưa thành khúc, rồi chất những khúc đước dài chừng non một thước đó vào lò. Lò than hình bán cầu, tợ như cái chén úp, có lỗ thông hơi. Người thợ lò than sẽ gầy lửa đốt suốt ngày đêm, rồi anh ta ngửi mùi con là thân đã chín chưa. Công việc đại thể là như vậy. Nhưng chính trong những dãy lò ấy, con người thì thế nào? Phải nói là con người vừa đốt than vừa đánh giắc. Có lần tôi đã nhìn thấy một anh thợ đốt lò chiến đấu với khẩu súng tự tạo, lấy lò than của mình làm công sợ. Sau khi cùng toàn đội đẩy lùi cuộc tàn, anh bị thương nặng từ trong lò bò ra, người anh bám đầy than đen, ngực anh đầm đìa những máu. Trước lúc chết, anh bảo vợ bồng đứa con gái nhỏ lại gần, anh kề miệng hôn đứa con mình lần cuối. Một vệt than in trên má của con anh, sau đó anh chết. Kỷ niệm cuối cùng của anh để lại trên đời là vất than trên má đứa bé. Những cái chết tương tự như vậy có rất nhiều. Hồi năm 1959 đen tối ở Cà Mau, có lần bọn Mỹ - Diệm đã từng sát hại nguyên một lò than người. Nói vậy để lúc nào anh đó dịp cầm lên trong tay một mẩu than Năm Căn, anh sẽ có một ý niệm về than đước sâu xa hơn. Một mẫu than đước mang trên mình có cái ý nghĩa lớn: lao động hòa bình và tính chiến đấu tự vệ vẻ vang.
Anh Tuân à! ở mũi Cà Mau, ngày nào cũng có máu hòa vào các dòng kinh nước mặn, ngày nào cũng có đạn rốc két nổ phụp xuống rừng đước, ngày nào cũng có từng đống dây thép gai vây quanh các ấp chiến lược bị cuốn tung lên... ở ngoài đó các anh thường nghe tin về các cuộc đấu tranh trực diện với hàng bao lượt người rầm rộ tràn qua đồn bót, thị trấn tràn vô Cà Mau, nhưng anh vẫn chỉ nghe nói, chớ chưa thấy các cảnh các mẹ, các chị, các cô bơi xuồng ào ào ra Cà Mau đâu. Khí thế chính trị của ta là ở cái mái chèo vỗ sóng vỗ nước, ở rừng xuồng ghe lao mũi tới như tên bắn, ở sự ung dung tự tin của các bà mẹ ngồi trên xuồng đi đấu tranh vẫn điềm nhiên ngoáy trầu ăn, và các cô gái vừa bơi vừa sửa lại khăn đội đầu cho ngay ngắn. Có khi vật đấu tranh chở dưới xuồng là mấy quả đạn 105 ly của địch bắn vô xóm bị lép, có khi là những thi hài bà con bị chúng mổ bụng. Bà con cơm đùm cơm nắm lên đường từ khuya, nơi nào xa thì phải đi tờ chiều hôm trước để kịp đến Cà Mau lúc tan sương. Bình minh là cuộc đấu tranh bùng nổ. Kẻ địch có lần đã mò xuống xuồng để cướp thi hài, hầu phi tna tội ác của chúng. Tức thì lúc đó các đoàn thuyền vây bọc xung quanh chiếc thuyền chở thi hài ken khít lại hơn. Trên mặt sông dàn ra một trận thế vô cùng vững chắc. Mặt sông vang lên những khẩu hiệu đòi nhận đơn, đòi bồi thường tài sản, nhân mạng. Bọn địch nổ súng, lúc đầu chúng bắn dọa, là đạn bay trên cao, bà co cặp xuồng vô bờ đổ bộ lên, bọn địch hạ thấp mũi súng xuống. Súng nổ có người té sấp ở vệ sông. Thế là người ta nhảy từ trên xuồng xuống ôm xác người chết đưa lên đi tới. Cuộc đấu tranh giằng co nhiều khi tới xế chiều. Trong chợ xuất hiện nhiều người bán bánh đi lẫn vào đoàn người, đó là hình thức tiếp tế của bà con ở ngoài chợ. Bánh trái ăn khỏi trả tiền. Một khi cuộc xô xát xảy ra, bà con còn giả cách bưng từng rổ mía chặt khúc đem vô bán, đó là cách tranh bị gậy gộc cho bà con biểu tình khéo léo nhất. Mỗi người cầm lấy một khúc mía làm võ khí tùy thân đánh nhau với lính. Cuộc đấu tranh biến cả chợ thành một cái tổ ong vở náo động cả lên, cho kỳ tới lúc tỉnh trưởng bối rối nhận đơn chịu bồi thường mới thôi. Tôi đã nhìn thấy bà con đem về những khúc mía gãy giập sau cuộc xô xát. Đặc biệt có nhưng tấm áo lịch sử. Một lần nọ chúng vây bắt một số bà con ta torng cuộc biểu tình, chúng lấy nước sơn viết lên áo của bà con dòng chữ "Toàn dân tham gia diệt cộng". Bà con vùng vẫy cưỡng lại, dòng chữ viết ép uổng ngoằn ngoèo chữ nào không ra chữ nào. Sau đó chúng thả bà con ra. Đi ngang phố bà con ghé vào hiệu nhuộm dùng nước thuốc để xóa hết các dòng chữ trái lòng trái dạ kia. Chuyện đấu tranh còn nhiều cái vui lắm, anh Tuân ạ. Giá có anh ở đây, các em, các chị sẽ kể cho anh nghe. Mà họ kể hồn nhiên lắm kia. Các chị vừa thoăn thoát tay đan lưới, vừa kể vừa cười rúc rích. Câu chuyện đấu tranh nghe như chẳng có cái gì là nguy hiểm chết người cả. Nhưng có những chị vừa cười vừa nói hồn nhiên với ta đó có khi vào hôm sau ta không gặp lại họ nữa. Họ có thể ngã xuống ở hàng đầu cuộc đấu tranh. Họ có thể bị bắt giam, bị đánh bằng gậy sắt, bị quay điện, bị ghim kim vào đầu ngón tay v.v... ấy vậy mà ngày ngày họ vẫn vui cười. Tiếng hát tiếng hò của hộ vẫn thường vút lên trên các dòng kênh hoặc những cánh đồng đã cấy. Cuộc chiến đấu ở mũi đất xa xôi nầy được cái nó trẻ trung, nó tươi đầy. Với giặc thì căm thù xốc tới, với ta thì yêu thương trìu mến. Và vì khát vọng có được một cuộc sống như ở ngoài Bắc nên con người ta dám chết. Hàng ngày Cà Mau rấn lên bùn đất và trong cơn máu đổ. Vậy mà Cà Mau vẫn xanh rờn màu mạ cấy, vẫn sáng loáng những đồng lúa vun cao, vẫn cắm cọc hàn sông ngăn tàu và cẫn bố trí hầm chông giữa ruộng. Nhưng lúc nào bà con cũng lảo đảo vì bắn chìm mấy chiếc thuyền nhựa của bọn công an duyên hải, một lát sau đã đình huỳnh ngồi tại một trại đáy ăn tôm lụi, uống vài ly rượu anít nhãn hiệu "Rồng xanh" cho ấm. Chả là anh ta phải trầm mình dưới kênh về, vì tụi giặc còn lại nó xổ trung liên như mưa theo anh.
Bầu trời Cà Mau cũng vậy, chẳng phải lúc nào cũng ong ong tái tái đâu. Cũng tùy mùa. Sáu tháng nắng, sáu tháng mưa mà. Mùa mưa bầu trời như se lại, bất cứ lúc nào cũng có thể đổ ào xuống một trận mưa to. Các ánh đồng kể cả rừng đước, vẹt, kể cả rừng tràm xứ U Minh Thượng, U Minh Hạ đều nhứ dầm chân trong nước. Không phải lo cho cây lúa, lúa cứ luôn luôn vượt khỏi mặt nước mà sống. Hầm chông, hố chông trong ruộng tựa như được nước lụt che, thằng giặc chẳng biết đâu mà rờ. Trong mùa nước, thằng giặc Mỹ - Diệm đổ bộ từ trực thăng xuống bị sụp chông, máu cứ loang đỏ trên mặt nước, trên màu mạ cấy.
Anh Tuân ạ! Vừa rồi ở trong nầy tôi may mắn được đọc tập "Sông Đà" và một số bài lẻ từ kháng chiến của anh. Trên mạn sông Đà, nếu anh có dịp theo một chiếc thuyền than nào đó xuôi sông Quỳnh Nhai, hoặc giả anh bắt gặp mây Mèo trên các triều núi Tây Bắc thì nay nếu anh mà đến được Cà Mau, tôi tin rằng anh sẽ gặp nhiều cái gợi anh nghĩ đến rất nhiều thứ chất liệu dành cho ký sự. Anh sẽ gặp bà má Năm Căn ngày đêm mong mỏi được ra thăm Hồ Gươm, anh sẽ gặp ông già cao niên nhất ở Viên An chuyên sống nghề hạ bạc, nghề làm củi. Các ông già ấy thể nào cũng cầm giữ anh lại ở trại đáy, cho anh ăn cua biển gạch son hoặc tôm lóng lớn bằng ngón chân cái luộc dấm. Các ông lão không quên đãi anh một vài ly rượu nếp cội (ở đây thì gọi là rượu mắt mèo, và nó trong lắm, trong như mắt con mèo vậy). Anh cứ lưu lại ở đó chơi qua một đêm. Khi đôi mắt của những ông già đã hoe hoe đỏ, khi bếp củi phựt sáng, rơi vạc than hồng, là lúc các ông ấy sắp dẫn anh đi ngược lại cái thuở ban sơ đến đây lập nghiệp, sau khi dời các sứ xa khổ ải, họ đã tới đây dựng lên hàng lưới, hàng đáy ra sao, dựng lên những lò than nung nấu cây đước ở chốn nê địa như thế nào. Anh nên đến đấy lắm, để nhìn xem tàu lá dừa nước óng mượt bụm nước U Minh đỏ ngầu như rượu vang. Rồi đây sẽ không bao giờ trở lại với ta nữa những đêm đi theo xuồng một chuyến giao liên, mỗi lúc cô giao liên khuấy chèo là vẽ lên một dòng sáng rực trên con kinh nước mặn. Có lẽ sau này khó mà nghe lại những hồi mõ, hồi trống nổi lên trong một vùng tranh chấp. Anh cần đến đây để tham quan cái hàng rào vĩ đại của bà con làm bằng cây đước, cây vẹt, vây chặt lấy biệt khu Bình Hưng của lũ giặc Mỹ - Diệm - Tưởng. Và ngày chủ nhật, ở vùng ven Bình Hưng, nghe thấy tiếng chuông nhà thờ từ trong cái địa ngục ấy vọng ra. Con chiên đi lễ là lũ giặc lóp ngóp chui qua từ các hệ thống hầm ngầm, vọng gác. Có tên trước lúc đến nhà thờ mới vừa ăn xong gan người xào, có tên trước giờ xưng tội còn tranh thủ giội nước sôi vô chiếc lu nhốt người cho người chịu tội bóc tuột da ra mà lũ giặc gọi là "làm lông" để sau khi đi nhà thờ về là chúng bắt tay pha thịt nấu nướng. Những chuyện về bọn Nguyễn Lạc Hóa khiến tôi nhớ tên Đèo Văn Long trong bài Một chút tiểu sử và một bản lý lịch và bài Xòe của anh. ở Tây Bắc, người con gái bị giết sau tối xòe đã là chuyện bi thảm rồi. Nhưng ở Bình Hưng ngày nay, chúng nó chẳng cằn xòe hát gì cả, chúng nó đi càn quét các vùng lân cận bắt con em chúng ta về lập nên nhà chứa cho lính. Tên lính nào vô nhà chứa mấy lần đều có ghi sổ, tới cuối thành tên Nguyễn Lạc Hóa sẽ khấu trừ vào số lương của họ. Chuyện Bình Hưng là cả một chuyện đau lòng, rùng rợn về con người. Bởi vì chúng nó cũng là con người. Bọn ăn thịt người tới mức độ đã biết ngon, biết chế biến ra cách xào nấu, biết lỗ tai người và bàn tay người là ngon nhất. Giành nhau một cái mật người, chúng có thể đâm nhau, bắn nhau, bởi vì một cái mật có thể bán 1.000 đồng, nghe nói nay đã lên tới 1.500 đồng, 1.800 đồng. ở Sài Gòn có một bọn thầu mua, chẳng sợ ế! Bọn Diệm thường gọi Bình Hưng là "Biệt khu Hải Yến bất khả xâm phạm". Bọn Kennơđi tặng Bình Hưng tên "Ngôi sao của thế giới tự do". Chỉ có bà con Cà Mau gọi Bình Hưng đúng với cái tên của nó, "Địa ngục Mỹ - Diệm - Tưởng". Lũ giặc Bình Hưng trong cơn say chếnh choáng giữa bữa tiệc thịt người thường vỗ ngực nói rằng:
- Nếu Việt Cộng đánh được Bình Hưng thì Việt Cộng mới lấy được miền Nam.
Mới đây nghe tin lực lượng võ trang ta triệt hạ hai chi khu quân sự Đầm Dơi, Cái Nước, thì Bình Hưng bị pháo kích dữ dội, 80 tên giặc vừa chết vừa bị thương, bọn Bình Hưng đâm hoảng bảo nhau:
- Việt Cộng nó đã đánh Đầm Dơi, Cái Nước, thì ở đây nguy đến nơi!
Hẳn là như vậy rồi, sớm muộn rồi Bình Hưng củng bị tiêu diệt, lực lượng võ trang của ta đã báo trước cho Bình Hưng biết điều đó. lực lượng ta lớn mạnh mau chóng thật, anh Tuân ạ. Chỉ huy trẻ trung, chiến sĩ trẻ măng, đôi mươi, có khi còn trẻ hơn nữa. Nhất là các chú trinh sát đặc công. Trong cuộc chiến đấu này, con em ta đã ra tiền tuyến trước tuổi. Đó là điều khiến tấm lòng các bà mẹ vừa kiêu hãng lại vừa xót xa. Một bà má ở U Minh vừa tiễn con trai 17 tuổ đi bộ đội, bảo tôi với giọng nghẹn ngào:
- Biết làm sao bây giờ? Má sợ con má nó chết lắm, nhưng má không thể giữ nó ở nhà với má được!
Bà mẹ U Minh nói như vậy, anh Tuân ạ. Về văn học, cái mâu thuẫn xâu xé trong cõi lòng bà mẹ miền Nam như vậy thì gọi là gì hở anh? sự thật thì chẳng có bà mẹ nào muốn con mình chết cả, chẳng qua là vì lẽ sống ở đây đòi đổi lấy bằng máu, không thể kỳ kèo tiếng một tiếng hai với kẻ thù được. Trong trận tiêu diệt chi khu Cái Nước tôi có tham dự, chiến sĩ giải phóng quân ở nhà anh nào anh nấy coi hiền lành, cù mì củ mỷ lắm. Đóng quân trong xóm, các anh bị các cô trê cứ đỏ mặt lên hết. Thế mà ở mặt trận thì họ khác hẳn, anh nào coi cũng dữ, cũng quyết liệt, họ hét, họ tuốt lê lao lên, họ dồn tờng tên địch vào góc tường rồi xốc tới trói nghiến lấy. Trận tấn công Cái Nước hôm đó mau lẹ đến nỗi điện đài địch không kịp kêu cứu về Cà Mau. Theo dõi Rađiôphôni nghe thấy một cái đồn lân cận, là đồn Rau Dừa kêu về Cà Mau báo tin chi khu Cái Nước bị tấn công dữ dội. Bọn Cà Mau điện trả lời:
- Hiện thời mọi chi khu đều biến động, chỗ nào nấy lo không thể tiếp cứu được.
Chi khu Cái Nước vừa bị hạ thì xuồng của đồng bào dân công đã bơi ào ào xông ra chở tù binh, chở chiến lợi phẩm. Con rạch dẫn ra Cái Nước, xuồng ghe chật cứng như nêm. Bà con gặp bộ đội, câu hỏi đầu tiên là:
- Sao? anh em mình có sao không?
Một số tù binh nghe các câu hỏi như thế cúi gằm mặt xuống. Bởi suốt cuộc đời lính cho Mỹ - Diệm, họ không sao kiếm ra một câu hỏi như vậy. Tất nhiên một trận đánh diệt ngót 200 địch ở Cái Nước, ta hy sinh năm chiến sĩ thì không có gì đáng kể. Thế nhưng có cái gì rất xót lòng, anh Tuân ạ! Tôi có đến nơi tẫn liệm năm chiến sĩ ấy. Lúc đó lối chừng hai giờ khuya. Dưới ánh sáng của những ngọn nến trắng cỡ lớn, năm anh chiến sĩ nằm gần nhau, mặt anh nào cũng phủ lá cờ Mặt trận. Xung quanh là các má, các chị, người lo thay quần áo cho anh em, xé vải liệm. Một bà má ngồi bên nhẹ tay vén là cờ nhìn mặt từng anh. Má lắc đầu, nước mắt lã chã. Má thương các anh quá. Tôi trông dáng bà má lúc ấy như đang tìm kiếm cái gì trên nét mặt của những đứa con mình. Có một anh chừng hai mươi tuổi chết rồi mà mắt cứ mở. Bà má vuốt mắt anh nhưng mí mắt anh vẫn không khép lại. Má đưa tay vuốt mặt lần nữa. Vừa vuốt má vừa thì thầm câu gì. Tôi nghe hình như má nói:
- Ngủ đi, ngủ đi con!
Cặp mắt anh chiến sĩ cuối cùng khép lại. Các má các chị lần lượt nâng con em mình đặt vào hòm. Tiếng khóc nấc lên giữa đêm sắp hầu tàn. Tôi cùng các má lội nước đưa các anh ấy ra nghĩa trang, và tôi giã từ những mộ phần mới đó ra đi trong đêm tối nhợt dần. Sáng ra rồi, tôi vẫn thấy ánh nến chập chờn, thấy đôi mắt của các chiến sĩ nuối nhìn cuộc sống, thấy các má các chị tới lui tất tưởi.
Đêm miền Nam là như vậy. Lứa tuổi trẻ ở miền Nam ngã xuống có anh chưa biết tình yêu là gì, chưa viết cái hơi thở ấm áp của một cô gái phả vào mặt mình, chưa hề cầm nắm một bàn tay khác lạ, nói chi đến chuyện hẹn hò nhau vào những chiều thứ bảy, nói chi đến chuyện dắt nhau đi dạo chơi trong công viên ngày chủ nhật. Sau những đêm như thế, khi ngày rạng, tôi thấy thiên nhiên cũng đổi khác. Nhìn sang rừng đước, tôi thấy dường như nó cắm sâu xuống lòng đất hơn, con rạch, vầng lá hình như cũng nhuộm thắm thêm cái màu sắc lãng mạn của cuộc chiến đấu.
Anh Tuân ơi,
Trong bài viết của anh, anh có nhắc tới những thằng Mỹ đem thân bón cho cây đước Cà Mau. Vào lúc tôi viết bức thư này cho anh, thì số tên lính Mỹ vùi thây dưới đất bãi bồi này tăng lên rất nhiều rồi. Trận gần đây nhất là trận Chà Là. 15 máy bay Mỹ bị bắn hạ. Một kỷ lục cao nhất về bắn hạ máy bay, có hàng chục phi công Mỹ chết theo máy bay của chúng. Có cả vợ quan lái tàu bay Mỹ đi vào vùng ta tìm kiếm thây chồng chết trận này. Mới đây, anh em đưa về chỗ chúng tôi một mớ tài liệu giấy tờ của hai tên Mỹ lái hai phi cơ phóng pháo bị du kích ta bắn rơi. Một trong hai tên phi công đó bị một viên đạn bắn xuyên qua cổ. Hai du kích bắn, một anh bắn khẩu Lơben, một anh bắn khẩu Garăng Mỹ. Tên phi công chết tốt. Chiếc máy bay cằm đầu xuống một cửa biển. Hai an du kích, anh nào cũng quả quyết là do chính khẩu súng của mình bắn hạ. Nhưng chẳng ai phân xử nổi. Tới chừng vớt xác tên Mỹ lên, thì vết đạn ở họng hắn lại chính là vết đạn Lơben. Loại súng này vốn là loại súng trường cổ lỗ của Tây, anh em gọi nó là "Quảng tầm sào", vì nó dài lêu nghêu như cây sào. Anh du kích bắn Lơben khoái trá nhảy cỡn lên mà la:
- Thấy chưa? Thấy cây "Quảng tầm sào" của tôi chưa? Đừng có khi dễ nó mà!
Tên Mỹ xấu số đó là trung úy Uyliam Xtadi, còn tên thứ hai là trung úy Vôn Hăngri Nétxi cũng bị hạ cùng chiếc phi cơ phóng pháo B.26 tại xã Khánh Bình Đông. Cả mớ tài liệu gồm có thẻ quân nhân, thẻ ăn sáng, thẻ câu lạc bộ hàng không ở Nêvađa, bản đồ, sổ ghi số bom đạn mang theo bao nhiêu, đã ném bao nhiêu và một số ảnh của vợ con chúng. Chiếc thẻ quân nhân của Uyliam Xtadi do Bộ Quốc phòng Mỹ cấp có dán ảnh hắn. Tên này trạc ba mươi tuổi. Đầu hắn hớt cua, mày rậm và hai mắt hơi lộ, trắng dã. Đôi mắt của hắn lúc ng mà đã như nhìn về cõi chết. Bức ảnh của tên Hăngri Nétxi bị tróc nham nhở, có lẽ bị thấm nước ruộng Khánh Bình Đông nên tôi không nhận ra được dung mạo của hắn. Trong quyển sổ võ khí có trang ghi: bom napan đã ném 20 quả, đạn rốc két đã bắn 43 trái. Thế có nghĩa là ngày hôm ấy nhà cửa đồng bào đã cháy, các em bé và các bà mẹ đã chết, cây ăn quả ngã gục. Dòng chữ ghi một cách ngắn gọn, tàn nhẫn. Tội ác của chúng được cụ thể hóa bằng số liệu bom và đạn. Vì vậy cái chết của chúng chẳng có gì là quá đáng. Vật cuối cùng tôi chú ý hơn cả là mấy bức ảnh của vợ con chúng, mấy bức ảnh được bọc rất kỹ trong giấy nhựa. Bọn giết người cũng viết nâng niu hình ảnh vợ con chúng. Một bức ảnh chụp người thiếu nữ Mỹ độ hai mươi ba tuổi, mặc áo hở ngực, đó đôi mắt sâu thẳm. ở người thiếu nữ này vẫn có cái gì tươi trẻ như mọi cô gái khác trên trái đất. Cô đang lâm vào một số phận đáng thương. Tôi biết vậy, nhưng lòng sao cứ ngây ngấy nổi lên mối ác cảm. Người thiếu phụ thứ hai lớn tuổi hơn có vẻ là người đàn bà nội trợ, đang nửa ngồi nửa nằm trên ghế sôpha, miệng cười chúm chím. Bức ảnh cuối cùng khiến lòng tôi se lại. ảnh chụp hai đứa bé, một trai, một gái. Đứa trai chừng năm tuổi, đứa gái chừng ba tuổi... Hai đứa nắm tay nhau đứng nhoẻn miệng cười trên bãi cỏ. Con của bé giết người cũng có nụ cười ngây thơ dễ thương như mọi đứa trẻ khác. Chúng ta đã mồ côi cha!
Tôi tự nghĩ rằng từ đây, nếu hai đứa trẻ ấy hỏi đến cha nó, thì liệu mẹ nó phải nói như thế nào? Chị ta có thể bảo thật với nó rằng: Cha chúng đã chết ở miền Nam Việt Nam không? Không, chắc người đàn bà ấy không đáp được câu hỏi của con mình. Tôi tính chị ta sẽ úp mặt vào lòng bàn tay mình mà nức nở, anh Tuân ạ. Và có lẽ đêm đó, người đàn bà đáng thương kia lại mường tượng tới mỏm Cà Mau xa lạ.
Anh Tuân! Mỏm đất đấy thì chúng ta biết rõ, nhất là tôi. Còn anh, anh cũng đi tới rồi đó, anh. Anh đi tới mũi Cà Mau với cây đèn đất lịch sử soi trên bản đồ địa lý, với trái tim nhịp đập theo sự kiện chạy ngày một khỏe của Cà Mau. Anh đến với mũi đất này như thế cũng quý hóa lắm rồi... Tính tới năm 1963 nầy, người dân Cà Mau đã trải qua ngót 20 năm đánh giặc rồi anh Tuân ạ. Nếu không cò thằng Mỹ, thì cuộc đời đã vui tươi sung túc bằng mấy. Nhưng từ nay bước vào cuộc kháng chiến gian khổ lâu dài, dân Cà Mau vẫn lạc quan theo đuổi đến cùng. Ngày ngày những con gió bão lớn nhứt thổi hắt vào mặt họ, nhưng tay cầm tay, họ đứng vững chân trên đất hệt như cây đước. Vấn đề là ở chỗ phải đứng chắc chắn như cái thế của cây đước. ở Cà Mau đã lâu, tôi chưa hề gặp một cây đước nào bị dông gió thổi bật, cho dù là một trận dông lớn nhất sức gió cũng không thể nhổ bật được hàng trăm rễ đước cắm sâu xuống lòng đất. Vả chăng có cây đước nào đứng riêng lẻ đâu? Nó đứng cạnh nhau, che chở cho nhau. Chỗ đứng đầu sóng ngọn gió sản sinh ra loại cây khả dĩ có thể chống chọi được sóng gió. Con người sinh ra ở đây cũng như vậy. Theo tôi, họ là những người Việt Nam thống khổ nhất, bị áp bức gai cấp mà đi riết các chỗ hết đất hết trời. Tôi cả tin ở lời anh nói rầng: những người tới đất Cà Mau sớm nhất có thể là một anh lính thú, một cung nữ thất sủng, hoặc là những kẻ bất hạnh. Tôi xin bổ sung thêm là gần đây vào thời lịch sử nước ta bị chia cắt lần thứ hai, tại mũi đất cuối cùng này lại đến thêm những con người bất hạnh mới. Đó là những bà con miền Bắc trong cuộc di cư cưỡng ép cuối năm 1945. Sau khi trải qua không biết bao nhiêu cảnh khổ, họ đã trôi dạt tới đây. Bà con này bị Mỹ - Diệm tập trung trong các khu dinh điền. Nhờ lực lượng võ trang ta đánh vào và bà con tự phá ra chạy vô vùng giải phóng. bà con ấy đã định cư làm ăn, tham gia cách mạng. Bà con lại đi bộ đội, du kích. Có người được kết nạp vào Đảng Nhân dân cách mạng, được cử vào Mặt trận ở địa phương. Là nào rụng về cội ấy. Người Cà Mau giúp đỡ, đùm bọc những người trước kia sống ở đồng bằng sông Nhị, sông Chu, hoặc ở những nơi đồng chiêm trắng nước tỉnh Hà Nam. Bà con miền Bắc này vẫn hay nhắc tới cái cổng xây, cái đình làng họ, cái giếng nước làng họ. Cho dù gặp con cá con tôm mập béo ở xứ đất màu mỡ, họ vẫn nhớ con cua con cáy. Tại Sào Lưới, một xóm nhỏ của Cà Mau nằm bên vịnh biển Thái Lan ầm ầm sóng vỗ, một hôm tôi đã nghe một ông cụ người quê Kẻ Sặt (Hải Dương) nói:
- Chiều chiều tôi nhìn những đám mây mà nhứ làng nhớ quê quá cậu ạ.
Tôi hỏi:
- Thưa cụ, cụ nói những đám mây kia?
Ông cụ gật đầu, đáp giọng như lạc đi:
- Phải, những đám mây đang trôi về quê tôi đấy, cậu ạ.
Chiều hôm đó, tôi mới vở lẽ ra ông cụ Kẻ Sặt có rất nhiều buổi chiều ngồi nhìn lên như thế. Ông cụ trông về phương Bắc... Mà thôi, tôi chẳng nói về ông già Kẻ Sặt ấy viết thư về cho những người thân thường bảo rằng "Ngày Bắc đêm Nam".Cũng đều giống nhau cả, kẻ đàng trong nhớ ra đàng ngoài, kẻ đàng ngoài nhớ vọng vô trong. Thư này tôi viết cho anh đã dài, mà những điều muốn nói về Cà Mau thì lại càng dài hơn. Có lẻ tôi tạm ngừng ở đây chăng? Một dịp khác tôi sẽ lại viết tiếp cho anh. Giờ đây đêm đã khuya, mưa đang đổ lớn, biển động dữ dội. Dạo này, đêm Cà Mau, gió mưa cứ tầm tã, ở ngoài đó chắc đã lập đông rồi, phải không? Mặt nước Hồ Gươm mùa đông có đẹp không anh. Lát nữa trời sẽ rạng sáng. Dù chưa biết Hồ Gươm, tôi vẫn nhớ Hồ Gươm và đoàn rằng lúc ấy Hồ Gươm sẽ đẹp hơn cả mọi lúc, vì khi ấy Tháp Rùa sẽ hiện ra trong sương sớm như xuất hiện từ trong câu chuyện thần thoại của bản thân nó. Cây đước của bà má Năm Căn có ở đó không anh nhỉ? Chừng nào thì xuất hiện cây đước với vòm lá xanh rì của nó, chừng nào thì rễ đước bắt đầu bén đất Hồ Gươm?
Chừng nào? Cái câu hỏi ấy, mỗi người đều phải đặt lấy, định lấy. ở tôi, ở anh, ở tất cả thảy chúng ta trên hai miền Nam Bắc. Tin rằng: Thời gian sẽ ủng hộ chúng ta. Để anh có thể vô thăm Cà Mau sớm hơn. Và tôi có thể ra viếng Tháp Rùa một thể cùng một chuyến với các bà mà Năm Căn, vai đeo bị bàng đựng những trái đước giống.
Chúc anh sức khỏe.
Cà Mau tháng 11 năm 1963.
|