Hiển thị các bài đăng có nhãn lừatình. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn lừatình. Hiển thị tất cả bài đăng

16 tháng 12 2014

SỰ THẬT VỀ NĂM 1937 Ở LIÊN XÔ

Người ta được cho biết rằng "Đại thanh trừng" là chiến dịch thanh trừng chính trị diễn ra tại Liên Xô dưới sự chỉ đạo của Iosif Vissarionovich Stalin thập niên 1930.
Khi quá trình này được thực hiện, Stalin đã củng cố quyền lực của mình ở gần mức tuyệt đối vào năm 1934 với sự sát hại Sergei Mironovich Kirov (việc mà nhiều người ngờ rằng Stalin đã sắp đặt kế hoạch) như một hoàn cảnh để tung ra Cuộc thanh trừng vĩ đại chống lại những kẻ bị cho là đối thủ chính trị và tư tưởng của ông ta, nổi tiếng nhất là những cán bộ cao tuổi và những thành viên từ chức vụ thấp đến cao trong Đảng Bolshevik. Lev Davidovich Trotsky đã bị tống khỏi đảng năm 1927, bị đầy tới Kazakhstan năm 1928 và sau đó bị trục xuất hoàn toàn khỏi Liên Xô năm 1929.
Rằng Stalin đã sử dụng các vụ thanh trừng để hủy hoại về mặt tinh thần và thể chất những đối thủ chính thức khác của ông ta (và cựu đồng minh) buộc tội Grigory Yevseevich Zinoviev và Lev Borisovich Kamenev đứng đằng sau vụ sát hại Kirov và có kế hoạch lật đổ chế độ Stalin. Cuối cùng, những người bị cho là liên quan đến việc này và các âm mưu khác với số lượng hàng chục nghìn người gồm nhiều cựu Bolshevik và thành viên cao cấp của đảng bị buộc tội âm mưu và phá hoại để giải thích cho những vụ tai nạn công nghiệp, sự thâm hụt sản xuất và các tai nạn khác của chế độ Stalin. Các biện pháp để chống lại những người đối lập và bị nghi ngờ gồm việc giam giữ trong các trại lao động (Gulag) tới hành quyết (con trai Trotsky, Lev Sedov và giống như Sergei Kirov - bản thân Trotsky cũng chết dưới bàn tay những kẻ giết người (của Stalin?) năm 1940).
Thời kỳ từ 1936 đến 1937 thường được gọi là "Nỗi khiếp sợ vĩ đại", với hàng nghìn người (thậm chí chỉ đơn giản bị nghi ngờ chống đối chế độ Stalin) bị giết hoặc bị bỏ tù. Stalin nổi tiếng đã đích thân ký 40.000 giấy phép giết hại người tình nghi đối thủ chính trị.
Trong thời kỳ đó, việc thực hiện các cuộc bắt giữ hàng loạt, tra tấn và phạt tù hay hành quyết không cần tòa án, đối với bất kỳ kẻ tình nghi nào là chống đối chính quyền Stalin của cảnh sát mật trở thành chuyện thường tình. Chỉ riêng ước tính của NKVD, 681.692 người đã bị bắn chỉ riêng trong khoảng 1937-1938 (mặc dù nhiều nhà sử học nghĩ rằng con số này vẫn còn dưới mức sự thực), và hàng triệu người đã bị chuyển tới các trại lao động Gulag.
Chúng ta cùng xem: Tài liệu phục vụ nghiên cứu

TN 2013 - 24 & 25: Sự thật về năm 1937 ở Liên Xô

09/01/2014
Bài viết là nội dung cuộc phỏng vấn của bình luận viên Vladimir Sukhomlinov (Báo Văn học, Nga) và nhà sử học nổi tiếng Juri Zhukov về năm 1937 - thời điểm khủng khiếp nhất trong lịch sử Liên Xô, khi “hàng chục triệu người vô tội” trở thành nạn nhân của những cuộc đàn áp đại trà, bị sát hại như “những kẻ thù của nhân dân” theo chỉ thị của “kẻ độc tài Stalin” vốn hành động chỉ cốt để “củng cố quyền lực cá nhân và trừng trị các đối thủ”.

SỰ THẬT VỀ NĂM 1937 Ở LIÊN XÔ

Trong hơn nửa thế kỷ qua, nhiều sách báo và các phương tiện thông tin đại chúng ở Nga và phương Tây thường nhắc tới năm 1937-1938 như một thời điểm khủng khiếp nhất trong lịch sử Liên Xô, khi “hàng chục triệu người vô tội” đã trở thành nạn nhân của những cuộc đàn áp đại trà, đã bị sát hại như “những kẻ thù của nhân dân” dường như theo chỉ thị của “kẻ độc tài” vốn hành động chỉ cốt để “củng cố quyền lực cá nhân và trừng trị các đối thủ”. Nhiều con số được dẫn ra, nhiều số phận của những con người cụ thể được kể lại. Song người ta hoặc vô tình hay cố ý bỏ qua một số điểm rất quan trọng là những cuộc trấn áp đã diễn ra trong hoàn cảnh nào, những sự kiện gì ở trong và ngoài nước đã ảnh hưởng tới tình hình ấy và liệu những kết luận được rút ra đã thật khách quan và chính xác? Đó là những vấn đề đang thu hút sự chú ý của các nhà sử học nói riêng và của tất cả những ai quan tâm đến lịch sử nước Nga – Xôviết nói chung. Để cung cấp cho bạn đọc – những người quan tâm đến sự thật lịch sử nhân loại một góc nhìn tương đối còn mới mẻ và khác biệt, NV&TP xin giới thiệu cuộc trao đổi thẳng thắn chung quanh những vấn đề này giữa nhà sử học nổi tiếng Juri Zhukov và bình luận viên Vladimir Sukhomlinov của tờ “L.G.” (Báo Văn. Liên bang Nga). Bài do dịch giả Lê Sơn chuyển Việt ngữ.
***
* Cách đây hơn 30 năm, tôi, lúc đó là một nhà báo trẻ tuổi, đã đàm đạo với Parubok, một phi công thử nghiệm đã lớn tuổi, và chúng tôi cùng nói về năm 1937. Tôi hỏi hồi đó ông ấy ở đâu. Parubok cho biết ông ấy đã sống trong một ngôi làng gần thành phố Kiev, nạn đói đã qua rồi”Mọi người uống rượu say sưa vì phấn chấn”. Có vẻ như những điều đó chẳng ăn nhập gì cả..?
– Điều đó là bình thường! Bởi lẽ, cho đến nay, Nga là một đất nước có lịch sử được huyền thoại hóa về nhiều mặt. Những sự kiện quan trọng đôi khi bị đẩy xuống hàng thứ yếu, còn những sự kiện đập vào mắt hay có lợi về mặt chính trị cho các nhà cầm quyền thì được thổi phồng, được cường điệu hóa. Song cần phải ngắm nhìn bức tranh với tất cả các màu sắc. Hiện nay, đối tượng nào bị chỉ trích là chủ yếu, bởi bất kỳ phái đối lập nào cũng như bởi tất cả mọi người? Đó là quan chức. Lớp người này tuồng như không phải là cộng sản, không phải là bônsêvích. Song tất cả những ai thuộc cánh tả lẫn cánh hữu, kể cả những vị ngồi trong điện Kremli, đều gặp nhau ở một điểm: quan chức – ấy là tai họa cho đất nước! Và vào những năm 1937-1938, khi xảy ra những vụ bắt bớ các quan chức, thì đó trước hết là cú đòn giáng vào lớp người có chức quyền này.
* Gần 500 ngàn quan chức thuộc đủ mọi cấp bậc (trước hết là các cán bộ đảng) bị cách chức và bị trừng trị.
– Đúng thế. Quả là có hai sự việc gắn bó mật thiết với nhau: Bọn quan chức bị ăn đòn và việc công bố bản Hiến pháp năm 1936 vốn được gọi là Hiến pháp Stalin. Tại kho lưu trữ, tôi đã cầm trên tay những trang bản thảo Hiến pháp, và thấy rằng một số điều quan trọng nhất được đích thân Stalin chấp bút. Và mọi người có được bộ luật cơ bản, và biết rằng những kẻ từng đè đầu cưỡi cổ và nhạo báng họ đã bị sa thải và bị tống giam.
Bản Hiến pháp trước đây (được soạn thảo vào năm 1923) bao gồm hai phần. Trong lời mở đầu có nói rõ: thế giới được chia thành hai phe đối địch – phe xã hội chủ nghĩa và phe đế quốc chủ nghĩa. Hai phe này tất yếu sẽ đấu tranh với nhau và mọi người đều thấy rõ ai sẽ thắng. Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xôviết ra đời. Phần chủ yếu cũng được viết theo tinh thần của những năm 1917-1918. Theo luật định thì một bộ phận dân cư đáng kể (bộ phận này thay đổi hàng năm) rơi vào danh sách của cái gọi là những người bị tước đoạt, không có quyền bầu cử. Trước hết, nếu xét theo nguồn gốc xã hội, đó là con cái của địa chủ, hiến binh, những người có huyết thống quý tộc. Ngoài ra đó là tầng lớp phú nông (cu-lắc)…
Trong Hiến pháp mới 1936 hoàn toàn không có sự chia tách thế giới ra làm hai phe đối địch.
Ngoài ra, Đảng chỉ được nhắc tới trong điều 126. Trong chương 10 nói về quyền hạn và nghĩa vụ của công dân. Chẳng hạn quyền thành lập các tổ chức xã hội mà nòng cốt có thể là một tổ chức xã hội như là Đảng Cộng sản. Tiếp theo là hệ thống bầu cử. Trước đây một số người này có quyền bầu cử và ứng cử, còn một số người khác thì không. Và cũng có sự không bình đẳng: một phiếu bầu của công nhân bằng ba phiếu của nông dân nhằm thực hiện nền chuyên chính của giai cấp vô sản. Điều mang tính chất hình thức chủ nghĩa thuần túy này đã bị hủy bỏ.
Giờ nói đến bản thân việc bầu cử. Theo Hiến pháp năm 1923 thì việc bầu cử được thực hiện ở ba cấp (điều này gây khó khăn cho việc tự do bầu cử) và không có sự lựa chọn.
Còn Hiến pháp năm 1936 và luật bầu cử được thông qua vào tháng 7 năm 1937 thì có gì mới?
Một là, không có bất kỳ ai bị tước đoạt, trừ những người bị tòa án tước quyền công dân vì phạm tội. Hai là, quyền phổ thông đầu phiếu, bầu trực tiếp. Mỗi người bỏ phiếu bầu một ứng cử viên cụ thể làm đại biểu Xôviết tối cao mà cả Stalin lẫn Molotov đều công khai gọi là quốc hội. Bầu bằng phiếu kín, có sự lựa chọn. Theo luật định, mỗi một ghế chí ít phải có 2-3 ứng viên. Chính thể lệ bầu cử này đã dẫn tới cái mà hồi đó mọi người gọi là nạn Ezhov, còn hiện nay người ta gọi không đúng là những vụ trấn áp đại trà.
* Tại sao lại không đúng?
– Chữ “repressija” (tiếng Pháp là “repression”) có nghĩa là “sự trừng trị, biện pháp trừng phạt”. Nó không chỉ được áp dụng đối với các đối thủ chính trị mà còn bao hàm cả việc kết tội ai đó vì hành vi ngộ sát, cưỡng bức, cướp bóc, hối lộ, biển thủ… Còn hiện nay, người ta dùng thuật ngữ này để chỉ tất cả những người bị bắt giam, kể cả bọn tội phạm hình sự, những kẻ phản quốc từng phục vụ trong các đơn vị biệt kích SS vào những năm chiến tranh chống phát xít, bọn trộm cắp v.v… Tất tần tật vào cùng một bị. Giết người, cưỡng hiếp cũng là kẻ bị trấn áp, là nạn nhân của cuộc khủng bố mang tên Stalin(?!) Một thủ đoạn rất quỷ quyệt.
Rất phổ biến là những con số từ Solzhenisyn, Razgon, Antonov – Ovsenko. Trong cuốn Chân dung tên bạo chúa, Antonov – Ovsenko thông báo rằng, chỉ từ 1935 đến 1940, số lượng những người bị trấn áp đã xấp xỉ 19 triệu.
* Theo chỗ tôi được biết, con số thực tế không phải vậy, mặc dầu cũng rất lớn. Gần 800 ngàn người bị xử bắn.
– Đúng thế. Bằng ấy người, nhưng từ 1921 đến tận 1953 cơ. Trong đó có 681.692 người trong hai năm 1937-1938.
Solzhenisyn đã đưa ra những con số hoàn toàn viển vông. Ông ta cho rằng trong những năm dưới chính quyền Xôviết có 110 triệu người bị trấn áp. Các nhà xã hội học phương Tây trong những năm chiến tranh lạnh đã đưa ra con số 50-60 triệu. Khi cuộc cải tổ bắt đầu, con số đó được hạ xuống còn 20 triệu.
Ở viện nghiên cứu chúng tôi có một tiến sĩ sử học tên là Viktor Nikolaevich Zemskov. Cùng với các bạn đồng nghiệp trong một nhóm, ông đã dành ra mấy năm, kiểm tra đi, kiểm tra lại những con số thực tế của các cuộc trấn áp, cất trong các kho lưu trữ. Chẳng hạn, những người bị xét xử theo điều 58. Và ông được những kết quả cụ thể. Phương Tây la ó. Và được trả lời: Đây là những tài liệu lưu trữ. Xin mời các ngài! Họ đã đến, đã kiểm tra và buộc phải đồng ý. Với những con số như sau:
Năm 1935, theo điều 58, có tất cả 267 ngàn người bị bắt và bị kết tội, trong số đó có 1229 người bị xử bắn. Tương ứng trong năm 1936 là 274 ngàn và 1118. Tiếp đó là cao trào. Trong năm 1937, có hơn 790 ngàn người bị bắt và bị kết tội theo điều 58, hơn 353 ngàn người bị xử bắn. Trong năm 1938 – hơn 554 ngàn người bị bắt và bị kết tội, hơn 328 ngàn người bị xử bắn. Sau đó là thoái trào. Trong năm 1939 – gần 64 ngàn và 2552. Trong năm 1940 – gần 72 ngàn và 1649.
Tổng cộng lại, trong thời kỳ từ năm 1921 đến 1953 có 4.060.306 người bị kết tội, trong số đó 2.634.397 người bị phạt tù và bị đưa vào trại cải tạo. Chỉ còn lại một câu hỏi: tại sao đặc biệt vào năm 1937-1938 lại xảy ra những chuyện khủng khiếp thế?
* Tất nhiên rồi, điều đó khiến cho mọi người quan tâm như trước đây.
– Trước hết: ai có lỗi? Mọi người bảo: Stalin. Đúng thế. Với tư cách là người lãnh đạo cao nhất của đất nước, ông phải chịu trách nhiệm chính. Song tất cả những chuyện đó đã xảy ra như thế nào?
Tháng 6 năm 1937. Đại hội các Xôviết cần phải được tiến hành. Trước đó đã diễn ra Hội nghị toàn thể của UBTW đảng để thảo luận về luật bầu cử. Trước Hội nghị này, các bí thư thứ nhất của Tỉnh ủy, Khu ủy liên tục gửi điện lên TW xin phép được bắt các kỹ sư, các cán bộ lãnh đạo nhà máy.
Stalin lần nào cũng trả lời vắn tắt và dứt khoát: Tôi không cho phép. Nhưng sau Hội nghị toàn thể, Stalin đã đồng ý. Về việc gì? Về cái việc mà “các nhà dân chủ” của chúng ta ngày nay cố lờ đi.
Ngay sau Hội nghị TW (vốn ủng hộ luật bầu cử mới, cử tri được quyền lựa chọn các ứng cử viên), những bức điện mật tới tấp được gửi tới Moskva. Các bí thư Tỉnh ủy, Khu ủy, Ủy ban TW đảng cộng sản ở các nước cộng hòa hỏi về cái gọi là những giới hạn. Số lượng những người mà họ có thể bắt và xử bắn hoặc đưa đi phát vãng. Người hăng hái nhất trong việc này là “nạn nhân của chế độ Stalin” Eikhe mà hồi đó giữ chức bí thư thứ nhất khu ủy miền Tây Sibiri. Ông ta xin phép bắn 10.800 người. Đứng ở hàng thứ hai là Khrushchev hồi đó đứng đầu tỉnh ủy Moskva: ông ta chỉ xin phép bắn “vẻn vẹn” 8.500 người. Đứng ở hàng thứ ba là bí thư thứ nhất khu ủy Azov – Hắc Hải (nay là vùng sông Đông và Bắc Kavkaz) Evdokimov: xin phép bắn 6.640 người và đưa đi trại cải tạo gần 7 ngàn. Các bí thư khác cũng hiếu sát như vậy, nhưng với những con số ít hơn. Một ngàn rưỡi, hai ngàn người…
Sau đó nửa năm, khi Khrushchev làm bí thư thứ nhất UBTW đảng Cộng sản Ukraina, trong một công văn khẩn đầu tiên gửi đến Moskva, ông ta xin phép bắn 20.000 người! Mà đó chỉ là lần đầu (!).
* Họ nêu lên những lý do gì để biện minh cho yêu cầu của mình?
– Chỉ một lý do: họ viết rằng Bộ dân ủy nội vụ (NKVD) vừa mới phát hiện ra một tổ chức vũ trang bí mật đang chuẩn bị nổi loạn. Nghĩa là không thể bầu cử có lựa chọn, chừng nào những tổ chức dường như có tính mưu phản ấy chưa bị tiêu diệt.
Có một điều cũng đáng chú ý, là chuyện đó đã diễn ra ngay trong Hội nghị TW khi thảo luận về luật bầu cử. Không ai dám phát biểu phản đối công khai, nhưng không hiểu sao hầu như tất cả những nhân vật “hiếu sát” hàng đầu đó lặng lẽ từng người một đến gặp riêng Stalin tại phòng làm việc của ông ngay trước khi Hội nghị khai mạc. Lần thì một người, lần thì hai, ba người… Sau những cuộc viếng thăm riêng lẻ đó, Stalin đành phải đầu hàng.
Tại sao? Điều này có thể hiểu được.
Vào thời gian đó, Stalin nhận thức rõ rằng Ezhov, Bộ trưởng dân ủy nội vụ, trên thực tế không phục tùng ông.
* Không thể tin được điều đó!
– Tại sao? Với tư cách là nguyên bí thư thứ nhất của tỉnh ủy, Ezhov đã vào hùa với những người đồng cấp khác. Điều đó có nghĩa: nếu Stalin khước từ những yêu sách của họ thì một ai đó trong số các ủy viên TW sẽ bước lên diễn đàn và tuyên bố: “Các đồng chí! Tất cả những hành vi của Stalin vào thời gian gần đây đã cho thấy rằng ông ta là kẻ xét lại, là phần tử cơ hội, ông ta đã phản bội sự nghiệp của Cách mạng tháng Mười, đã phản bội những lời di huấn của Lênin, đã phản bội cuộc Cách mạng của chúng ta”. Và diễn giả sẽ đưa ra không phải một mà là hàng chục dẫn chứng.
* Như vậy là Stalin hoặc là đã hèn nhát vì sợ mất quyền lực hoặc là có kế sách riêng của mình. Còn có những lý do nào nữa?
– Tôi xin đưa ra mấy ví dụ. Tháng 9 năm 1934, Liên Xô gia nhập Hội quốc liên, một tổ chức mà trước đó được bộ máy tuyên truyền của chúng ta coi là công cụ của chủ nghĩa đế quốc. Tháng 5 năm 1935, Liên Xô ký hiệp ước với Pháp và Anh về phòng thủ chung, trong trường hợp Đức mở cuộc xâm lược.
Tháng 1 năm 1935, có thông báo về việc xem xét lại Hiến pháp. Và sau đó ít lâu, thông qua “một nhóm đồng chí”, người ta đã biết sẽ có những thay đổi nào.
Tháng 6 năm 1935, Đại hội quốc tế cộng sản lần thứ bảy, đại hội cuối cùng, chuẩn bị nhóm họp. Người lãnh đạo của tổ chức này là Georgi Dimitrov tuyên bố: từ nay trở đi, những người cộng sản muốn nắm chính quyền thì cần phải tiến hành không qua biện pháp cách mạng, mà bằng con đường dân chủ, thông qua bầu cử. Ông đề nghị thành lập mặt trận nhân dân: những người cộng sản cùng với những đảng viên xã hội và những đảng viên dân chủ. Bước ngoặt đó, theo quan điểm của những người Bônsêvich cứng rắn, là một tội lỗi: những người cộng sản đi lại câu kết với kẻ thù của chủ nghĩa cộng sản là những nhà xã hội dân chủ.
* Cái công thức cứng nhắc: chủ nghĩa cộng sản – chủ nghĩa đế quốc đã bị sụp đổ.
– … Cuối năm 1935, Stalin trả lời phỏng vấn của nhà báo Mỹ Howard. Ông cho biết sắp sửa có Hiến pháp mới, hệ thống bầu cử mới, và sẽ có cuộc đấu chọi khốc liệt giữa các ứng cử viên, bởi lẽ họ được giới thiệu không phải chỉ bởi đảng cộng sản mà còn do bất cứ một tổ chức xã hội nào, thậm chí do một nhóm người đề nghị.
Lập tức giữa các ủy viên TW đã có những lời ong tiếng ve: chẳng nhẽ cả các cha đạo cũng có thể được đề cử ư? Họ liền được trả lời: Tại sao không? Cả bọn cu-lắc nữa ư? Không phải bọn cu-lắc, mà là nhân dân – họ được giải thích. Tất cả những điều đó đã khiến những người theo phái đảng trị đâm hoang mang lo sợ.
Một bộ phận đáng kể các bí thư thứ nhất hiểu rằng, họ đã làm nhiều điều xằng bậy. Một là, đã xảy ra những hành động quá trớn với quy mô cực lớn trong việc tập thể hóa. Hai là, đã có những sai lầm nghiêm trọng trong phần đầu của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất. Rất nhiều bí thư đảng ủy là những người kém văn hóa. Vậy làm sao họ có thể giám sát việc xây dựng những công trình công nghiệp khổng lồ. Họ ra sức chỉ đạo mà chẳng hiểu gì. Bởi vậy điều đó đã làm gia tăng sự bất mãn từ phía nông dân, công nhân, kỹ sư, và bản thân họ cũng cảm nhận rõ tình hình ấy.
* Đã hình thành một đội ngũ kỹ thuật, đã có nhiều sự thay đổi, khó lòng mà che giấu được điều gì.
– Những người lãnh đạo đảng ở các địa phương sợ rằng, nếu diễn ra cuộc bầu đúng nghĩa thì cùng với họ sẽ xuất hiện thêm một vài ứng viên khác nữa. Có thể họ sẽ không trúng. Mà đã không là đại biểu Xôviết tối cao, thì có nghĩa là ngồi chơi xơi nước chờ đến khi Ban tổ chức TW ở Moskva bảo: “Đồng chí này, nhân dân không ủng hộ đồng chí nữa. Vậy đồng chí hãy tìm một công việc nào hợp với sức mình hoặc chịu khó đi học nhé!”. Vào những năm đó, Stalin đã nhiều lần nói: Không hiểu sao, một người giữ chức vụ cao lại cho rằng, cái gì mình cũng biết nhưng kỳ thật thì chẳng biết gì. Đó là một sự ám chỉ thẳng thừng khiến cho phái đảng trị giật mình, phải cảnh giác.
Và họ đã liên kết lại với nhau như bất kỳ một phường hội nào, buộc Stalin phải hủy bỏ từ cuộc bầu cử có lựa chọn vào năm 1937, và, xét về thực chất, đã hạ uy tín của ông.
Người ta đã thử ngừng các cuộc trấn áp trong tháng 2 năm 1938, tại Hội nghị TW thường kỳ. Malenkov, Trưởng ban tổ chức TW đã phát biểu, công khai phê phán những người đặc biệt hăng hái trong việc này. Ông hỏi Postyshev (trước công tác tại Ukraina, nay là bí thư thứ nhất tỉnh Kuibyshev): Trong tỉnh mình, đồng chí đã lần lượt bỏ tù tất cả các cán bộ của chính quyền, của đoàn thanh niên Komsomol, của tổ chức đảng, vậy đồng chí còn định bắt giam bao nhiêu người nữa? Postyshev thản nhiên: “Tôi đã, đang và sẽ còn bắt giam nữa. Đó là trách nhiệm của tôi”. Malenkov hỏi Bagirov, bí thư thứ nhất Azerbaidzhan: Tại sao đồng chí lại có thể ký lệnh bắt giam và xử bắn, song thậm chí không ghi rõ danh tính mà chỉ ghi số lượng những người bị bắt và bị xử bắn. Bagirov lặng thinh.
Stalin cần khẩn cấp sa thải Bộ trưởng dân ủy nội vụ Ezhov là kẻ đã tiến hành những vụ trấn áp vô tiền khoáng hậu. Trước hết, ông cho gọi Berija từ Tbilisi, là người vừa được chọn làm bí thư đảng ủy vùng Zakavkaz’e, đến Moskva để giữ chức Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh quốc gia, một bộ phận của Bộ dân ủy nội vụ chuyên việc trừng phạt. Berija không thể hợp tác được với Ezhov. Cuối tháng 11 năm 1938, Ezhov được mời đến gặp Stalin. Trong phòng lúc đó có cả Voroshilov và Molotov. Sau nhiều giờ trao đổi thẳng thắn, và cả thuyết phục, Ezhov buộc phải viết đơn xin từ chức. Và Berija được bổ nhiệm làm Bộ trưởng dân ủy nội vụ.
Ngay sau đó, hơn một triệu người được thả khỏi các trại cải tạo. Đồng thời Berija tiến hành thanh lọc Bộ dân ủy nội vụ. Trong bộ này, phần lớn dân Do Thái có trình độ văn hóa thấp thuộc diện cán bộ cao cấp và trung cấp. Hầu như tất cả bọn họ đều bị sa thải.
Một lớp cán bộ mới đã tốt nghiệp đại học hoặc đang học dở năm thứ ba, năm thứ tư, chủ yếu là người Nga, được tuyển dụng. Lúc ấy, những vụ bắt bớ mới bắt đầu giảm hẳn.
Khi chúng ta nói về điều 58 thì không nên quên một chuyện. Một nữ đồng nghiệp của tôi là chị Galina Mikhailovna Ivanova, tiến sĩ sử học, đã có một phát hiện đáng chú ý để hiểu rõ hơn về thời kỳ đó. Trước và sau chiến tranh, những tên tội phạm chuyên nghiệp, theo quy định, không được làm việc. Và chúng cũng không làm việc. Nhưng cứ nửa năm một lần, tòa án lưu động lại ghé thăm các trại giam và xem xét các vụ phạm nhân vi phạm chế độ thụ án. Những ai từ chối làm việc thì bị kết tội phá hoại ngầm. Mà tội phá hoại ngầm là thuộc điều 58. Bởi vậy, cần phải thấy rằng, bị xét xử theo điều luật này không chỉ có những kẻ thù chính trị của “nhóm Stalin” hoặc những người bị quy vào điều đó, mà còn có cả những phạm nhân từ chối làm việc. Và, lẽ dĩ nhiên, có cả những tên gián điệp chính cống, những tên biệt kích, mà loại tội phạm này không phải là ít.
Không thể không nhắc tới một sự kiện là vào tháng 5 năm 1937, đã diễn ra vụ án về cái gọi là mưu phản trong Bộ dân ủy quốc phòng (NKO).
Sau này lưu truyền một huyền thoại rằng, gần như toàn bộ đội ngũ cán bộ chỉ huy cốt cán của quân đội và hải quân đều bị trấn áp. Nhà nghiên cứu O.F. Suvenirov đã cho ra một cuốn sách với những số liệu (không trừ một ai) về các quân nhân bị bắt vào những năm 1935-1939: Danh tính, ngày sinh, chức vụ, khi nào bị bắt, án phạt. Một cuốn sách dày cộm. Té ra 75 phần trăm những quân nhân bị trấn áp chỉ là các chính ủy, các luật sư quân đội, cán bộ quân nhu, bác sĩ quân y, kỹ sư quân đội… Bởi thế ý kiến cho rằng dường như toàn bộ ban chỉ huy quân đội đã bị xóa sổ là một câu chuyện hoang đường.
… Có một chi tiết đáng chú ý. Khi Stalin báo cáo tại Hội đồng quân sự về “vụ mưu phản mang tính chất chính trị – quân sự” thì ông chú mục vào một điểm: vụ mưu phản trong Bộ dân ủy quốc phòng là phần kết thúc của một vụ án khác xảy ra vào năm 1935 mang cái tên “Mớ bòng bong”.
* Tôi nghĩ rằng không phải ai cũng hiểu vụ án đó là như thế nào.
– Cuối năm 1934, anh rể của Stalin (trong cuộc kết hôn đầu tiên) từng công tác trong lãnh vực tài chính, đã viết thư cho Stalin thông báo rằng, đang có một vụ mưu phản chống lại nhóm trung ủy của ông. Những ai có chân trong nhóm ấy? Bản thân Stalin, Molotov – người đứng đầu chính phủ, Ordzhonikidze – người chỉ đạo việc xây dựng ngành công nghiệp nặng, Voroshilov – bộ trưởng bộ dân ủy quốc phòng, Litvinov – bộ trưởng bộ dân ủy ngoại giao, người thi hành chính sách tích cực nhằm xích gần lại với các chế độ dân chủ phương Tây, Vyshinski, Viện trưởng Viện kiểm sát Liên Xô từ năm 1935, người đã trả tự do cho tất cả những ai bị trục xuất khỏi Leningrad sau vụ Kirov bị sát hại, đã thả gần 800 ngàn nông dân bị lâm nạn bởi cái gọi là “vụ án ba bông lúa”. Nằm trong nhóm này còn có Zhdanov, người đã thay thế Kirov ở Leningrad, và hai nhân vật rất quan trọng trong bộ máy của UBTW đảng: Steski, trưởng ban tuyên truyền cổ động và Jakovlev (Egshtein), người sáng lập hai tờ báo được phổ biến rộng rãi nhất – “Nông báo” và “Dân nghèo”, một ký giả có tài. Cũng như Steski, Jakovlev là ủy viên Ủy ban Hiến pháp, nhưng chủ yếu là tác giả của bộ luật bầu cử.
Sau Hội nghị TW năm 1937 đã được nhắc tới mà ở đó những người theo phái đảng trị chỉ bề ngoài ủng hộ luật bầu cử, Steski và Jakovlev bị bắt và bị xử bắn. Người ta không nhắc tới hai nhân vật này, nhưng lại than khóc cho số phận của Tukhachevski, Uborevich, Jankir** và những người khác.
* Tôi đã từng nghe một định nghĩa: năm 1937 là ngày hội trừng phạt đối với đội cận vệ của Lênin, còn năm 1934 và năm 1935 là sự chuẩn bị cho ngày hội đó.
– Một nhà thơ vốn tư duy bằng hình tượng thì có thể nói như vậy. Nhưng vấn đề ở đây đơn giản hơn. Thậm chí sau khi Cách mạng Tháng Mười thắng lợi, Lênin, Trotski, Zinov’ev và nhiều người khác không suy nghĩ một cách nghiêm túc rằng chủ nghĩa xã hội sẽ thắng lợi ở nước Nga lạc hậu. Họ đặt hy vọng vào những nước có nền công nghiệp phát triển như Mỹ, Đức, Anh, Pháp. Bởi lẽ chính nước Nga dưới thời Sa hoàng, xét về trình độ phát triển công nghiệp, đã đứng sau nước Bỉ nhỏ tí xíu. Người ta đã quên mất điều đó. Và lấy làm tự hào về nước Nga(!). Nhưng trong cuộc Đại chiến thế giới lần thứ I, chúng ta đã phải mua vũ khí của người Anh, người Pháp, người Nhật, người Mỹ.
Ban lãnh đạo Bônsêvích chỉ hy vọng vào cách mạng ở Đức. Về điều này Zinov’ev đã viết rất rõ trên tờ “Pravda”. Ông ta nói rằng chỉ khi nào nước Nga liên kết với nước Đức thì nó mới có thể xây dựng được chủ nghĩa xã hội.
Trong khi đó, ngay từ mùa hè 1923, Stalin đã viết cho Zinov’ev: “Thậm chí chính quyền từ trên trời rơi vào tay đảng cộng sản Đức thì nó cũng không thể giữ nổi”. Stalin là người duy nhất trong giới lãnh đạo không tin vào Cách mạng Thế giới. Ông cho rằng sự quan tâm chủ yếu của chúng ta là nước Nga Xôviết.
Chuyện gì xảy ra tiếp đó? Cách mạng không nổ ra ở Đức. Còn ở ta có Chính sách kinh tế mới (NEP). Sau mấy tháng, đất nước đã khóc rống lên. Các xí nghiệp đóng cửa, hàng triệu người thất nghiệp. Các công nhân còn việc làm thì được lĩnh lương chỉ bằng 10-20% số tiền họ được lĩnh trước cách mạng. Đối với nông dân thì chế độ trưng thu lương thực thừa được thay bằng thuế lương thực, song thứ thuế này cao đến mức nông dân không chịu nổi. Nạn trộm cướp gia tăng. Để có lương thực nộp thuế và nuôi gia đình, những người bần nông đã liều lĩnh tấn công các đoàn tầu hỏa. Tệ nạn này cũng phổ biến trong giới sinh viên: để có tiền ăn học, họ đã trấn lột bọn nhà giàu phất lên nhờ chính sách kinh tế mới. NEP đã dẫn tới kết quả gì? Nó đã làm hư hỏng các cán bộ của đảng, của chính quyền Xôviết. Nạn hối lộ tràn lan khắp nơi. Chủ tịch Xôviết nông thôn, cảnh sát đều ăn tiền trong bất cứ một dịch vụ nào. Các giám đốc nhà máy sửa chữa nhà cửa của mình và mua sắm những đồ xa xỉ bằng tiền của xí nghiệp. Cứ như thế từ 1921 đến tận 1928…
Trotski và cánh tay phải của ông ta trong lĩnh vực kinh tế là Preobrazhenski đã nghĩ cách chuyển ngọn lửa cách mạng sang châu Á và đào tạo cán bộ tại những nước cộng hòa phương Đông của nước Nga, đồng thời cấp tốc xây dựng ở đó những nhà máy để “bồi dưỡng” giai cấp vô sản ở địa phương.
Stalin đưa ra một phương án khác: xây dựng chủ nghĩa xã hội trong một nước riêng biệt. Hơn nữa, ông chưa lần nào nói, bao giờ thì chủ nghĩa xã hội sẽ được xây dựng xong. Ông bảo: xây dựng! Sau đó một vài năm, nói rõ thêm: cần phải xây dựng nền công nghiệp trong 10 năm. Ngành công nghiệp nặng. Nếu không thì chúng ta sẽ bị tiêu diệt. Ý kiến đó được phát biểu vào tháng 2-1931. Stalin hơi bị nhầm lẫn một chút về thời gian. Sau 10 năm và 4 tháng, nước Đức đã tấn công Liên Xô.
Sự khác biệt giữa nhóm của Stalin và những người Bônsêvich cứng rắn mang tính chất nguyên tắc. Dù họ thuộc cánh tả như Trotski và Zinov’ev hay thuộc cánh hữu như Rykov và Bukharin – điều đó không quan trọng. Tất cả bọn họ đều đặt niềm hy vọng vào cách mạng ở châu Âu… Do đó, thực chất của vấn đề không phải là trừng trị, mà là đấu tranh gay gắt để xác định đường lối phát triển đất nước.
* Ông muốn nói rằng cái thời kỳ, mà dưới con mắt của nhiều người được coi là thời kỳ xảy ra những vụ trấn áp của Stalin, xét về một phía khác, là sự cố gắng nhằm xây dựng chế độ dân chủ nhưng không thực hiện được do nhiều nguyên nhân?
– Hiến pháp mới phải dẫn tới điều này. Stalin hiểu rằng đối với con người ở thời kỳ ấy thì chế độ dân chủ là một cái gì đó chưa thể đạt tới được. Bởi lẽ đối với một học sinh lớp một thì không thể đòi hỏi những kiến thức của toán cao cấp. Hiến pháp năm 1936 là một bộ y phục quá rộng, may để phòng hao. Hãy lấy tình hình nông thôn làm một ví dụ. Sẽ được thành lập Ủy ban đường phố, các cư dân của 10 – 12 hộ bầu ra một người chịu trách nhiệm về tình trạng làng xóm. Tự mình cai quản nhau. Không ai ra lệnh cho họ cả. Đó là ý đồ học cách quan tâm đến cộng đồng, đến nề nếp trật tự công cộng. Và sau đó cứ thế mà đi tiếp… Mọi người quen dần với việc tự quản. Chính vì thế, dưới chính quyền Xôviết, hệ thống quyền lực được áp đặt từ trên xuống theo chiều thẳng đứng sẽ dần dần bị triệt tiêu.
Nhưng chúng ta đã bị tước mất tất cả những điều đó bởi những cải cách giả hiệu vào đầu những năm 90. Cần phải hiểu rằng chúng ta đã mất đi những cơ sở của nền dân chủ. Hiện nay người ta bảo: chúng tôi trả lại việc bầu chọn những người đứng đầu cơ quan hành chính, việc bầu chọn các thị trưởng, việc bầu chọn trong đảng cầm quyền… Nhưng, thưa các bạn, điều đó đã từng có, chúng ta đã từng có tất cả những thành tựu ấy.
Stalin, khi bắt đầu những cải cách chính trị vào năm 1935, đã phát biểu một tư tưởng quan trọng: “Chúng ta cần phải giải phóng Đảng, thoát khỏi hoạt động kinh tế”. Nhưng ông liền nói rõ thêm rằng, việc đó sẽ không nhanh chóng được đâu. Malenkov cũng đã nói về điều này tại Hội nghị TW lần thứ 18 vào tháng 2-1941. Lại còn một sự kiện vào tháng 1-1944, Hội nghị TW duy nhất trong những năm Vệ quốc. Bộ Chính trị đã nhóm họp trước đó, xem xét bản dự thảo nghị quyết do Stalin, Molotov, Malenkov ký. Bản dự thảo gồm 5 trang, nói rõ: Các khu ủy, tỉnh ủy, huyện ủy, thành ủy đã tuyển dụng những cán bộ thông minh nhất và tài năng nhất, nhưng chả đem lại lợi ích gì. Họ ra lệnh về tất cả những vấn đề của cuộc sống, nhưng nếu như thực hiện sai thì các cơ quan Xôviết là những người chấp hành phải chịu trách nhiệm. Bởi vậy bản dự thảo đề ra việc: nên giới hạn hoạt động của các đảng ủy ở việc tuyên truyền, cổ động và tham gia vào công tác tuyển chọn cán bộ. Tất cả những phần việc còn lại là công việc của các cơ quan chính quyền (tức các Xôviết). Bộ Chính trị đã bác kiến nghị đó, mặc dầu nó mang ý nghĩa của việc cải cách Đảng.
Còn sớm hơn nữa, vào năm 1937, khi thảo luận về luật bầu cử, Stalin đã đưa ra một nhận xét: “Thật may, hoặc không may, là chúng ta chỉ có một Đảng”. Rõ ràng, trong một thời gian dài ông đã trở đi trở lại với suy nghĩ là cần phải đưa các cơ quan của chính quyền nhà nước thoát khỏi sự giám sát quá cứng nhắc của Đảng. Nhưng ông đã qua đời và không đạt được ý tưởng này.
* Tiện thể xin nói thêm rằng sau cái chết của Stalin, tiêu điểm của sự chú ý thường được chuyển sang những sự kiện như việc Berija bị bắt và bị xử bắn. Liệu có phải đó là sự kiện quan trọng nhất không?
– Sau khi Stalin qua đời, người đứng đầu chính phủ Liên Xô là Malenkov, một trong những chiến hữu gần gũi nhất của Stalin, đã cắt bỏ những khoản trợ cấp ưu đãi đối với tầng lớp cán bộ cao cấp của đảng. Chẳng hạn, việc cấp phát hàng tháng một món tiền (“phong bao”) gấp hai, ba lần, có khi tới năm lần so với số tiền lương. Và những tiêu chuẩn nhà điều dưỡng, xe ô tô riêng, chế độ phục vụ đặc biệt… Đồng thời nâng lương cho các cán bộ cơ quan nhà nước lên 2-3 lần. Các cán bộ đảng, theo thang giá trị phổ biến, trở nên thấp hơn nhiều so với các cán bộ nhà nước.
Đợt tiến công vào những quyền lợi ngấm ngầm của tầng lớp cán bộ đảng cao cấp kéo dài được ba tháng. Các cán bộ này liền cấu kết với nhau và lên tiếng khiếu nại với bí thư TW Khrushchev. Họ yêu cầu được hưởng chí ít một chút gì mà những người khác không có.
Khrushchev đã hủy bỏ quyết định ấy, tất cả “những mất mát” được hoàn lại cho tầng lớp cán bộ cao cấp của đảng một cách hậu hĩnh. Và Khrushchev, tại Hội nghị TW tháng chín, được nhất trí bầu làm Bí thư thứ nhất, mặc dầu tại Hội nghị TW tháng ba, mọi người đã quyết định xóa bỏ chức vụ này và chuyển sang chế độ lãnh đạo tập thể.
Sau đó ít lâu, Malenkov được điều đến làm việc ở Ural. Bắt đầu một thời kỳ thỏa hiệp vô nguyên tắc – nếu nói về hệ thống cấu trúc nội tại của chính quyền, khi tầng lớp cán bộ cao cấp của Đảng (bằng việc thuyên chuyển quanh co từ các cơ quan Nhà nước sang các cơ quan Đảng và ngược lại) càng ngày càng trở nên lộng hành hơn. Và đánh mất khả năng cảm nhận được thời đại, khiến cho đất nước ngừng phát triển. Hậu quả là tình trạng trì trệ, là sự thoái hóa của Chính quyền đã dẫn tới những biến cố năm 1991 và 1993.
* Như vậy là những quyết định vừa được nhắc tới của Malenkov – đó là những hoài bão không thực hiện được của Stalin?
– Có rất nhiều cơ sở để coi là hư vậy.
* Đó là sự phục thù thực sự của tầng lớp cán bộ đảng cao cấp nhằm trả đũa.
– Tất nhiên rồi. Đánh giá những năm đó, ta có thể khẳng định rằng, Stalin mong muốn tạo ra một nền kinh tế hùng mạnh và đã đạt được điều đó. Chúng ta đã trở thành một trong hai siêu cường, dù chỉ sau khi ông qua đời, nhưng chính ông là người đặt nền móng.
Ông mong muốn hạn chế bớt quyền lực của các quan chức, ông cố gắng bồi dưỡng nền dân chủ cho nhân dân để nó được thực hiện, dù phải qua mấy thế hệ nữa, song ông ao ước nó thấm vào máu thịt của nhân dân. Tất cả những điều này đã bị Khrushchev hủy bỏ. Sau đó là cả Brezhnev… Kết quả là bộ máy của Đảng và bộ máy của Nhà nước nhập làm một, với phong cách của chế độ đảng trị: lãnh đạo nhưng không hề chịu trách nhiệm. Trước đây còn có những đòn bẩy kiểm tra. Chẳng hạn nếu ở nơi anh sống có chuyện gì không ổn, mà đó là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, anh có thể khiếu nại đến quận ủy, ở đó người ta sẽ xem xét. Từng tồn tại Ủy ban kiểm tra Xôviết, Ủy ban kiểm tra nhân dân. Đó cũng là công cụ giám sát các quan chức.
Sau vụ phản cách mạng năm 1991 – 1993, các quan chức được giải phóng khỏi mọi kiểu giám sát có thể có, do đó họ tha hồ lộng hành và ngày càng trở nên tệ hại hơn.
***
Lê Sơn giới thiệu và dịch
(Theo Literaturnaja Gazeta, số 28, tháng 7/2012)
• JURI NIKOLAEVICH ZHUKOV (sinh năm 1938), nhà sử học Nga, tiến sĩ các khoa học lịch sử, nghiên cứu viên cao cấp của Viện lịch sử Nga trực thuộc Viện Hàn lâm khoa học Nga (RAN). Tác giả của nhiều công trình về lịch sử Liên Xô, về Stalin và “thời kỳ Stalin.
• **Tukhachevski M.N (1893 – 1937) Nguyên soái Liên Xô. Ubrevich I.P (1896 – 1937) Tư lệnh tập đoàn quân, Jankir I.E (1896 – 1937) Tư lệnh tập đoàn quân. Cả ba người này bị kết tội tham gia vào vụ mưu phản và đều bị xử bắn năm 1937(LS)
Nguồn: Sự thật về năm 1937 ở Liên Xô - Lê Sơn - Tạp chí Nghiên cứu lịch sử - Số 8 - 8/2013 - Tr. 71 - 79

Liên quan:

MỘT KHÍA CẠNH Ở NHÀ BÁO VŨ TRỌNG PHỤNG:
NGƯỜI LƯỢC THUẬT THÔNG TIN QUỐC TẾ

Lại Nguyên Ân
Cách đây hơn ba chục năm, việc phát hiện ra rằng trong di sản Vũ Trọng Phụng có một bài báo dài nhan đề Nhân sự chia rẽ giữa Đệ Tam và Đệ Tứ…(1937) đã tạo thuận lợi quyết định cho ý đồ loại trừ Vũ Trọng Phụng khỏi văn học sử nước nhà. Đương nhiên, việc lấy những phát ngôn chính luận thay thế các sáng tác văn học của cùng một tác giả văn học nhằm định giá tác giả ấy − bản thân phương thức đó đã là không xác đáng trong nghiên cứu văn học. Tuy vậy, chúng tôi không có ý định đề nghị giới nghiên cứu bỏ qua các phát biểu chính luận của nhà văn, dẫu sự nghiệp của nhà văn chủ yếu là các sáng tác nghệ thuật.
Trường hợp Vũ Trọng Phụng, ông không chỉ có những phát biểu theo lối tùy hứng, "tạt ngang", phụ trợ. Đối với ngòi bút ông, chức phận nhà văn và chức phận nhà báo là đồng thời, song song, ít nhất là do mưu sinh: ông không có thu nhập nào khác ngoài những gì được trả cho ngòi bút đã trót chuyên nghiệp hóa của mình.
Tuy nhiên, đề tài nhà báo Vũ Trọng Phụng vẫn còn là quá rộng đối với tôi lúc này. Tôi chỉ dám đề cập đến một khía cạnh nhỏ nhân đọc lại bài báo dài nêu trên, để hình dung đôi nét về ông như một người tóm lược thời sự quốc tế. Tôi cho sẽ là thú vị cho chúng ta khi đọc lại bài báo này ở thời điểm hôm nay, với những thông tin mới, những gợi mở mới cho cách nhìn mà chỉ công cuộc cải tổ của Liên Xô cũng như tinh thần đổi mới ở ta mới có thể đem lại cho chúng ta.
1/ Để thuận tiện bước đầu, chúng tôi thấy cần phải cho rằng: Việc giới nghiên cứu từ những năm 1960 trở đi căn cứ vào bài báo dài này và một số trích dẫn khác trong tác phẩm báo chí và văn học của Vũ Trọng Phụng để kết luận về thái độ chính trị "đả kích cộng sản, bôi nhọ Liên Xô" của nhà văn − xin tạm coi kết luận ấy là có thể hiểu được. Cứ giả định rằng bài viết nói trên của Vũ Trọng Phụng đã có tác dụng xấu đối với phong trào cách mạng đương thời. Điều chúng ta quan tâm là: ngoài tác hại khách quan ấy, bài báo trên còn những gì khả thủ về mặt thông tin các hiểu biết lịch sử ở bên ngoài biên giới nước mình? Và đối chiếu với tư liệu quốc tế ngày hôm nay thì sự thông tin của Vũ cách đây nửa thế kỷ trùng hợp hay sai lệch với mức độ ra sao?
2/ Đọc lại bài báo dài này của Vũ Trọng Phụng, chúng ta sẽ thấy đây là hình thức lược thuật, bình thuật, tổng thuật tình hình. Văn tài của tác giả có vẻ như ở đây không bộc lộ gì nhiều. Chỉ là một cách kể chuyện với độc giả trong nước về một đề tài thời sự-lịch sử quốc tế. Khối lượng tài liệu tác giả sử dụng hẳn là không nhỏ. Qua cách lược thuật của Vũ Trọng Phụng, có thể thấy sự kiện cách mạng tháng Mười và sự ra đời và tồn tại của nhà nước Xô Viết đã thu hút mạnh mẽ sự quan tâm của nhà báo Vũ Trọng Phụng. Cũng qua đây, có thể thấy thiện cảm (chứ không phải ác cảm) của Vũ Trọng Phụng đối với nhà nước công nông đầu tiên này trên thế giới. Đặc biệt Vũ Trọng Phụng tỏ ra thán phục không che dấu đối với tài năng và nghị lực của Lênin (mà có chỗ ông mệnh danh là "đấng Cứu thế Đỏ"). Ông cũng tỏ ra hết sức thông cảm với những khó khăn khổng lồ mà chính quyền vô sản non trẻ ở nước Nga vấp phải, ông tỏ ra khâm phục sức lực và ý chí của nhân dân Nga trong việc theo đuổi lý tưởng cộng sản (xin khỏi dẫn các đoạn của bài báo, cho gọn).
Bài báo được viết năm 1937, gần như ngay sau "vụ án Moscou" chấn động thế giới. Qua bài viết có thể thấy chính Vũ Trọng Phụng cũng tỏ ra bàng hoàng trước cái việc mà ông gọi là "cuộc xâu xé của những tay đồng chí cũ". Tuy vậy bài báo của ông không chứng tỏ là ông xoay ngược thái độ thiện cảm của ông đối với cách mạng tháng Mười và nhà nước kiểu mới. Vũ Trọng Phụng quy trách nhiệm cho Stalin, cho "khuynh hướng về một chế độ độc tài của dân tiểu tư sản" của Stanlin.
Số phận Quốc tế thứ ba và sự chia rẽ, mâu thuẫn giữa Đệ Tam và Đệ Tứ không phải là nội dung của bài báo này mặc dù nó là cái cớ để ông viết bài bình thuật. Ở phần cuối bài báo, ông chỉ nêu lên hiện tượng gây ngạc nhiên là chính những bạn chiến đấu cũ của Lênin lại công khai nhận tội phản bội trước tòa trong vụ án 1937, và ông cắt nghĩa ở phương châm hành động "Mọi phương tiện đều tốt" − chính sách kiểu Machiavelli − mà ông cho là người cộng sản đã sử dụng. Từ đây ông suy luận về sự chia rẽ giữa Đệ Tam và Đệ Tứ, coi như là một cuộc tranh đoạt quyền lực thông thường. Điều này tất nhiên là đặc trưng cho cách nhìn của người đứng ngoài và đứng xa hàng ngũ của phong trào cộng sản quốc tế, phản ánh cả tình trạng thiếu thông tin lẫn sự thiếu hiểu biết và định kiến của tác giả. Tuy nhiên, cách suy nghĩ này không phải chỉ là cá biệt của Vũ Trọng Phụng (dưới đây sẽ đối chiếu với suy nghĩ và cắt nghĩa tương tự của Brecht, Becher vài chục năm sau đó).
3/ Đặt trong bối cảnh của thông tin hiện nay, nhất là những thông tin tư liệu lịch sử chỉ được biết đến rộng rãi do kết quả của phương hướng công khai hóa và dân chủ hóa mà công cuộc cải tổ đem lại, chúng tôi sơ bộ thấy:
Về đại thể, bài báo dài này của Vũ Trọng Phung, tuy đã trở nên khá sơ giản thậm chí rất sơ giản trong việc trình bày các sự kiện lịch sử, nhưng nhìn chung không xuyên tạc lịch sử cách mạng tháng Mười và 20 năm đầu của chính quyền Xô Viết, càng không có biểu hiện của thái độ bài Xô (anti-sovietique), cũng không có biểu hiện rõ rệt của thái độ chống cộng sản (mặc dù không đứng trên lập trường cộng sản và khá ít hiểu biết về chủ nghĩa cộng sản, phong trào cộng sản và người cộng sản).
Tìm ra và liệt kê những sự sơ giản thậm chí thiếu chính xác trong bài báo dài của Vũ Trọng Phụng là điều không mấy khó khăn. Song bên cạnh đó lại có khá nhiều điểm tỏ ra trùng hợp với những tài liệu mới biết đến gần đây. Thí dụ:
− Vũ Trọng Phụng viết: "vào đầu 1923, giữa Lênin và Stalin có cuộc xung đột về tư tưởng. Lênin bắt đầu bình phục, và cũng làm việc nữa, chỉ ít lâu thì sẽ cắt bớt thế lực của Stalin đi", thì gần đây trên báo Tin tức Moskva (số 4/1989, ngày 24/1) đăng bài Đụng độ cuối cùng do chính tổng biên tập báo này Egor Jakovlev viết, công bố những tài liệu cụ thể của sự kiện trên.
− Việc giải tán quốc tế cộng sản liên quan đến quyết định của Stalin do nhượng bộ F. Roosevell và W. Churchill năm 1943 (dẫn theo: Roy Medvdev, Chân dung chính trị Molotov, đăng trên tạp chí Junost,  số 4-1989).
− Việc Vũ Trọng Phụng khi bình thuật đã quy phần lớn trách nhiệm làm suy yếu cách mạng, suy yếu Liên Xô cho Stalin, giờ đây, nhận định này trở nên thông dụng, phổ biến trong dư luận báo chí Xô Viết. Phương hướng này ở giới sử học Xô-viết còn mạnh mẽ hơn nữa, đồng thời phương hướng này đang có một quy mô quần chúng rộng rãi, với việc thành lập Hôi "Memorial" (Hội liên lạc và cứu trợ những nạn nhân của chủ nghĩa Stalin) và tính chất quần chúng rộng lớn của hội này. (Tất nhiên có thể còn có nhiều tư liệu đích đáng hơn mà nhiều người đã đọc, tôi chỉ xin dẫn ra một số tư liệu ghi được trong phạm vi đọc của tôi).
Ở trên, tôi có nhận  xét rằng ở bài báo dài này, Vũ Trọng Phụng chỉ hiện diện như một người lược thuật, mức cao hơn là bình thuật và chỉ đôi chỗ mới có đôi nét của nhà bình luận. Ở trên cũng đã nói ý định cắt nghĩa động cơ nhận tội phản bội của những người vốn là chiến hữu của Lênin trong vụ án 1937. Trước đó khi nói đến "cuộc xâu xé của những tay đồng chí cũ", tuy không nói rõ ra, nhưng có vẻ như Vũ Trọng Phụng hình dung sự việc này tương tự như những điều thường xảy ra ở phương Đông sau khi một triều đại được thiết lập. Ý đồ cắt nghĩa động cơ nhận tội của 13 nạn nhân vụ án 1937, khác hơn một chút, lại gắn với nhận xét về "thủ đoạn kiểu Machiavelli". Ở đây bộc lộ những hoài nghi hoặc thiếu hiểu biết của Vũ Trọng Phụng về người cộng sản làm cách mạng, đấy làm một mặt. Mặt khác "hoài nghi kiểu trí thức" này của ông không cá biệt. Về "vụ án 1937", về tính chất trấn áp, bạo lực… của cách mạng Nga, nhiều trí thức văn nghệ sĩ cỡ lớn cũng từng suy nghĩ, cắt nghĩa theo những hướng khác nhau. Xin dẫn vài ví dụ:
− 1931, sau khi thăm Liên Xô về, kịch tác gia Anh B. Shaw viết cuốn sách Nhận thức lý tính về nước Nga (Rationnalisation of Russia) trong đó cố ý bỏ qua các khái niệm nhân đạo, luật pháp để hiểu cách mạng Nga. "Một cuộc cách mạng tiến hành thắng lợi phải đưa những người tham gia và ủng hộ nó đến sự tuyệt vọng bi đát" − "Ở thời điểm cách mạng hiện hình thành chính phủ, nó thế tất phải bắn bỏ các nhà cách mạng" − "Tôi không trách chính phủ Xô-viết đã không đem lại sung sướng cho những thiên thần của cách mạng… tôi càng ít trách chính phủ ấy vì đã bắn bỏ những người vô chính phủ và những người theo chủ nghĩa công đoàn từng là chiến hữu, là đồng chí đồng cam cộng khổ trước đây". Tuy biện hộ nhưng tác dụng lại ngược chiều. Dẫu vậy các nhà nghiên cứu Liên Xô hiện nay vẫn coi Shaw như là một trong số những nhà văn nước ngoài đầu tiên động đến những vấn đề nhức nhối nhất của xã hội Xô-viết do tiếp nhận thử nghiệm chủ nghĩa xã hội theo mô hình Stalin (Dẫn theo T.L. Motyleva: Bạn bè của tháng Mười và những vấn đề của chúng ta. "I.L." [Văn học nước ngoài”], số 4/1988, tr.161).
− Cuốn sách Liên Xô về (Retour de l' URRS, 1936) của André Gide (mà đương thời đã gây tranh luận ồn ào trong giới trí thức, văn nghệ sĩ châu Âu; ngay hồi ấy cũng là cuốn sách khá phổ biến trong giới trí thức, văn nghệ sĩ ở nước ta), gần đây đã được in lại ở Liên Xô, và với cuốn sách này A. Gide được coi là "người đầu tiên trong số các nhà hoạt động văn hóa nước ngoài đã đánh lên tín hiệu về các hình thức quái đản do chấp nhận tệ sùng bái cá nhân Stalin" (T.L: Motyleva, bài báo dẫn trên).
− 1956, trước khi mất ít lâu, Bertolt Brecht có một bài báo Về sự phê phán Stalin, dưới hình thức đề cương. Ở điểm (4) ông viết: "Việc tiêu diệt sự dã man tư bản chủ nghĩa có thể tự thân nó đã bộc lộ những nét của sự dã man. Trật tự dã man nảy sinh bằng cách như vậy ngay từ đầu có thể đã chứa đựng những nét của tính phi nhân, do chỗ − như Marx đã viết − giai cấp vô sản được nuôi dưỡng trong những hoàn cảnh thiếu tính người. Cách mạng cùng một lúc tháo cởi ở con người cả những phẩm hạnh kỳ diệu lẫn những thói tật thâm căn cố đế" (dẫn theo tư liệu trên, tr.170).
− 1956, sau đại hội XX Đảng CSLX, nhà thơ CHDC Đức Johannes Robert Becher tự phê bình những ảo tưởng của mình về chủ nghĩa xã hội, cho quan niệm của mình là tiểu tư sản tiểu thị dân, cho nguyên nhân là ở ý muốn nôn nóng biện hộ cho một kiểu thực nghiệm chủ nghĩa xã hội mới chỉ đang bắt đầu. "Những ai suy nghĩ và mơ ước về chủ nghĩa xã hội như thiên đường trên mặt đất, những người ấy sẽ nhận ra rằng chế độ xã hội chủ nghĩa đẻ ra kiểu người sẵn sàng làm tất cả nếu không trực tiếp áp dụng các phương pháp dã man thì cũng không dứt khoát từ chối các phương pháp ấy, và những minh chứng về điều này thì chỉ vừa mới đây thôi chúng ta mới có được, do chỗ các phương pháp ấy tỏ ra còn dã man hơn cả những gì đã được áp dụng trong quá khứ" (J. R. Becher, Tự kiểm duyệt // "Litteraturnaya Gazeta" số 30, ngày 27/7/1988).
4/ Trở lại với nhận định hồi những năm 1960 về bài báo này của Vũ Trọng Phụng, tôi nghĩ là không cần tranh luận với nhận định về "tác hại khách quan" của bài báo này đối với phong trào cách mạng trong nước đương thời. Thậm chí, cũng cần thừa nhận nhận định ấy nếu nó là do chính những người hoạt động trong phong trào cách mạng đương thời nêu lên: sự xác nhận của họ đã là một sự kiện.
Về ý nghãi thông tin thời sự-lịch sử khách quan, như chúng tôi dẫn giải một số khía cạnh nêu trên, rõ ràng bài báo không xuyên tạc lịch sử, không "bôi nhọ cộng sản", "đả kích Liên Xô" như một số nhà nghiên cứu những năm 1960 đã quy kết.
Ở đây cần làm rõ một vài khía cạnh có quan hệ đến quan điểm lịch sử.
Chúng tôi lưu ý những đặc điểm về thời gian và tác giả bài báo: bài báo xuất hiện trong môi trường dư luận của xã hội thực dân, tức là người cộng sản và đảng cộng sản chưa nắm chính quyền, chưa làm chủ dư luận (hơn nữa thường bị cấm đoán, đàn áp). Tác giả bài báo tuy có quan tâm theo dõi (một cách tự nguyện) tình hình thế giới nhưng ông không đứng trong hàng ngũ đảng phái chính trị nào, thiện cảm và ác cảm với các xu hướng chính trị ở ông có những sự ngả nghiêng tuỳ từng thời điểm.
Chúng tôi cũng lưu ý đến bối cảnh những năm 1960 và tác giả của những nhận định nêu trên về bài báo của Vũ Trọng Phụng: Thời gian này xã hội miền Bắc đã qua 15 năm từ khi đảng cộng sản giành được chính quyền, đã hoàn toàn làm chủ và toàn quyền giám sát mọi hoạt động tinh thần, tư tưởng, ngôn luận. Do vậy việc đề cao người cộng sản và toàn bộ phong trào cộng sản (tại mọi thời điểm lịch sử của nó) trở thành một trong những khuôn mẫu bắt buộc của mọi phát ngôn trong dư luận, kể cả các phát ngôn thuần tuý tư liệu về lịch sử quá khứ. Khuôn mẫu này, quy phạm này đương nhiên là cũng trở thành tiêu chuẩn đánh giá lịch sử, kể cả lịch sử văn học.
Trường hợp Vũ Trọng Phụng, ông viết bài báo này trong thời điểm chưa xuất hiện quy phạm nêu trên, nhưng lại được xem xét vào thời thịnh hành của quy phạm ấy nên tất bị định giá theo yêu cầu của quy phạm ấy. Đây là một "ca" thông thường, "có thể hiểu được" như chúng tôi đã nêu từ đầu, tuy bản thân sự nhận định này lại vi phạm quan điểm lịch sử (nếu quan điểm lịch sử được coi như là "phải đặt sáng tác vào đúng thời điểm nó được viết ra để đánh giá nó"). Nhưng quan điểm lịch sử còn tính đến viễn cảnh: nếu những tư tưởng, nhận định, thậm chí là những thông tin mà đương thời đã khó được chấp nhận, nhưng lại tỏ ra chịu đựng được thời gian − dẫu chỉ là thời gian cần để thừa nhận độ tin cậy của những thông tin cũ, − thì quan điểm lịch sử lẽ nào lại không tính đến yếu tố này?
5/ Cuối cùng, trở lại với đề tài về bài báo dài và về bản thân nhà báo Vũ Trọng Phụng, chúng tôi không đánh giá thật cao về bài báo và tác giả của nó. Thậm chí với bài báo này, chúng tôi nghĩ không thể gọi tác giả của nó là nhà bình luận thời sự quốc tế được (Và điều này không phải là làm ra vẻ nghiêm khắc. Chúng ta biết rằng nền báo chí mấy chục năm qua cũng chỉ rõ rệt ở khuôn mặt tập thể. Hầu như nó chưa đẻ ra được nhà bình luận quốc tế nào mà tên tuổi và tiếng nói được độc giả thế giới quen thuộc và lưu ý lắng nghe). Với bài báo này, Vũ Trọng Phụng chỉ khiêm nhường là người đem những tư liệu đọc được ở báo chí nước ngoài, nhất là báo chí cấp tiến ở Pháp (trong đó có báo chí của đảng cộng sản) thuật lại với công chúng trong nước. Và chỉ ở đôi chỗ giữa dòng thuật lại kể lại ấy, ông mới chen vào đôi ba suy luận chưa thật hoàn chỉnh của mình. Về mức độ sự thật mà ông thông tin, ông cũng bị hạn chế ngang như (nếu không phải là nhiều hơn) những nguồn tư liệu sách báo mà ông thu nhận. Nếu trong những thông tin này có những điều sẽ được xác nhận rộng rãi thì đó cũng không phải do sáng suốt của cá nhân ông. Chẳng qua ông chỉ khách quan hơn trong việc xử lý các nguồn tin, lại cũng do ông không phải làm việc trong một môi trường dư luận có nhiều quy phạm, nhiều huý kỵ.
Tuy nhiên cũng sẽ không công bằng nếu không thấy mẫn cảm nhà văn có một vai trò nào đó, dù ít ỏi đến mấy, trong lựa chọn và xử lý thông tin của ông. Tôi muốn nghĩ đến mẫn cảm về sự thật là cái đã giúp ông rất nhiều khi xử lý các tài liệu đời sống gián tiếp để viết các tác phẩm văn học − phóng sự và tiểu thuyết. Có lẽ mẫn cảm ấy cũng đã làm lóa lên ở ông những nghi ngờ nào đó về cái sự thật bề sâu bên trong các phong trào xã hội chính trị ở quy mô quốc tế mà ông không có cách gì tìm biết.
Lưu ý đến những "chớp loé" ấy, đối chiếu nó với những tư liệu quốc tế về những phản xạ của giới nhà văn, giới trí thức nghệ thuật thế giới từ đầu thế kỷ này đối với sự kiện lớn nhất thế kỷ: cách mạng tháng Mười và sự ra đời nhà nước kiểu mới, − chúng ta thấy Vũ Trọng Phụng dù chỉ hoạt động trong một môi trường bó hẹp của văn học và báo chí nước nhà, nhưng những tình cảm của ông đối với sự kiện lớn này, thái độ của ông trước tính chất phức tạp của những sự kiện gắn với tệ sùng bái cá nhân Stalin − nói chung không xa lạ với trạng thái và tính chất các phản xạ của giới văn hóa thế giới đương thời, dù chúng ta chỉ mới tính đến những nhà văn hóa được coi là bạn bè của cách mạng tháng Mười, bạn bè của đất nước đầu tiên giành được chính quyền về tay công nông.
08/10/1989
● Tham luận tại Hội thảo khoa học kỷ niệm 50 năm ngày mất Vũ Trọng Phụng,
Văn Miếu, Hà Nội, 12/10/1989
“Tạp chí văn học”, s. 2/1990

Stalin và nhân dân Nga: tình yêu hay thù hận?

Trong thế kỷ XX, 3 lần nước Nga được cứu thoát chỉ nhờ vào tinh thần dân tộc. Lenin như một nhân vật trung dung, ít nhiều mang tinh thần Nga, Stalin là đại diện cho phe dân tộc Nga, có thể ông là người Nga theo nghĩa dân tộc cũng nên, nhưng dù sao thì phân biệt con người theo tư tưởng mới là chính xác. Vì thế cho nên Stalin bị phương Tây bôi nhọ là dễ hiểu, còn tàn bạo thì Trosky mới là bậc thầy. Cho đến tận ngày nay, hầu hết chống đối Liên Xô và Nga đều xuất phát từ Do Thái.
Trong bài, có toàn văn phát biểu của Stalin đọc trong ngày mừng thắng lợi 24/5/1945, rõ cái tinh thần dân tộc này, duy nhất tinh thần dân tộc Nga cứu nước Nga khỏi thảm họa:

"Товарищи, разрешите мне поднять еще один, последний тост.
Các đồng chí, cho phép tôi nâng cốc một lần nữa, lần cuối chúc mừng.
Я хотел бы поднять тост за здоровье нашего Советского народа и, прежде всего, русского народа.
Я пью, прежде всего, за здоровье русского народа потому, что он является наиболее выдающейся из наций, входящих в состав Советского Союза.
Tôi đã muốn được nâng cốc chúc mừng sức khỏe nhân dân Xô Viết chúng ta, và trước hết là nhân dân Nga.
Tôi uống, trước hết, là mừng cho sức khỏe nhân dân Nga, bởi vì họ là xuất sắc nhất trong các dân tộc, thành viên của Liên minh Xô Viết.
Я поднимаю тост за здоровье русского народа потому, что он заслужил в этой войне общее признание, как руководящей силы Советского Союза среди всех народов нашей страны.
Tôi nâng cốc chúc mừng sức khỏe nhân dân Nga, bởi vì trong cuộc chiến tranh này họ xứng đáng được công nhận chung là lực lượng lãnh đạo của Liên minh Xô Viết trong số các dân tộc của đất nước chúng ta.
Я поднимаю тост за здоровье русского народа не только потому, что он — руководящий народ, но и потому, что у него имеется ясный ум, стойкий характер и терпение.
Tôi nâng cốc chúc mừng sức khỏe nhân dân Nga không chỉ bởi vì – họ là người đứng đầu, mà còn bởi vì, họ có trí tuệ trong sáng, tính cách và lòng chịu đựng bền bỉ.
У нашего правительства было не мало ошибок, были у нас моменты отчаянного положения в 1941–1942 годах, когда наша армия отступала, покидала родные нам села и города Украины, Белоруссии, Молдавии, Ленинградской области, Прибалтики, Карело-Финской республики, покидала, потому что не было другого выхода. Иной народ мог бы сказать Правительству: вы не оправдали наших ожиданий, уходите прочь, мы поставим другое правительство, которое заключит мир с Германией и обеспечит нам покой. Но русский народ не пошел на это, ибо он верил в правильность политики своего Правительства и пошел на жертвы, чтобы обеспечить разгром Германии. И это доверие русского народа Советскому правительству оказалось той решающей силой, которая обеспечила историческую победу над врагом человечества, — над фашизмом.
Chính phủ chúng ta đã mắc không ít sai lầm, đã có khoảnh khắc ở trong tình thế tuyệt vọng trong những năm 1941-1942, khi quân đội của chúng ta rút lui, bỏ rơi các làng mạc và thành phố Ukraina, Belarus, Moldova, vùng Leningrad, Baltic, CH Karelian-Finnish của chúng ta, đã bỏ rơi bởi vì không còn cách nào khác. Nhân dân này khác có thể đã nói với chính phủ: các ông đã không đáp ứng được sự trông đợi của chúng tôi, hãy đi đi, chúng tôi sẽ lập chính phủ khác, ký kết hòa bình với Đức và bảo đảm yên ổn cho mình. Nhưng nhân dân Nga đã không làm như thế, vì lẽ họ tin cậy vào sự đúng đắn của chính sách chính quyền của mình và đã chấp nhận hy sinh để đảm bảo đánh bại nước Đức. Và lòng tin cậy này của nhân dân Nga vào chính quyền Xô Viết đã đưa đến sức mạnh quyết định, tạo ra chiến thắng lịch sử trước kẻ thù của loài người – chủ nghĩa phát xít.
Спасибо ему, русскому народу, за это доверие!
Xin cảm ơn họ, nhân dân Nga, vì lòng tin cậy này!
За здоровье русского народа!
Vì sức khỏe nhân dân Nga!”

Bịa đặt về Joseph Stalin – là thứ virus hủy hoại cơ chế bảo vệ chúng ta

Cuộc đấu trí đấu lực Stalin - Trotsky rất khốc liệt và diễn ra ngay từ đầu với dáng vẻ đấu tranh nội bộ, bè phái và khuynh hướng. Trotsky đã là nhân vật quyền lực số 2 chỉ sau Lenin từ trước CMT10.
Cho đến tận 1927, Trotsky và các đồng sự thất bại, bị tước các chức vụ đảng và chính quyền, ông ta bị trục xuất khỏi Liên Xô, đi qua Thổ sang Pháp rồi định cư ở Mexico. Tại đó, ông ta vẫn hoạt động cách mạng và sáng lập Quốc tế cộng sản thứ 4. Sống sót qua 1 số vụ ám sát và cuối cùng chết ở tuổi 60 sau khi bị thương nặng trong 1 vụ tấn công mà người ta cho là NKVD thực hiện.
Một số thủ lĩnh đầu sỏ trong chủ nghĩa Trotskism thì chạy thoát về chốn cũ: Anh, Pháp, Mỹ. Những tên khát máu khác bị tống vào trại Gulag. Chủ nghĩa Trotskism bị giải tán nhưng nhiều kẻ đã kịp tìm cho mình vỏ bọc và chỗ ẩn nấp. Stalin đã tha những kẻ qui hàng.
Đến thời chủ nghĩa xét lại Khrushchev, cơ hội trả mối thù cũ hiện ra. Stalin bị bôi nhọ, bị thóa mạ không thương tiếc. Putin cũng đấu với các đầu sỏ và cũng bị bôi nhọ.
Số phận con cháu Stalin gặp nhiều đau khổ và trắc trở. Cho đến tận ngày nay, họ và những người khác vẫn đang đấu tranh vì sự phán xét công bằng lịch sử đối với Stalin. Chúng ta đọc qua bài phỏng vấn Yakov Dzhugashvili với báo Nga.
Yakov Dzhugashvili là cháu trai Stalin, lấy tên như người bác con trai cả của Stalin đã hy sinh trong tù.
Chủ nghĩa tự do đã đạt đến cao trào, dưới vỏ bọc nhân quyền dân chủ, nhưng thực ra vẫn là xét lại, thì hình ảnh Stalin rất xấu xí. Đến ngay cả Putin, khi nói về Stalin cũng đã phải thanh minh: Thời ấy nó thế!
Bài viết này có đầu đề: Ложь об Иосифе Сталине – это вирус, разрушающий наш защитный механизм - Bịa đặt về Joseph Stalin – là thứ virus hủy hoại cơ chế bảo vệ chúng ta.
Bịa đặt chống Stalin được định hướng không phải chống Stalin mà chống người Nga.
https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgIC638xnvhfgqGA4KwsOhjSY8ROQarL7tBQFdHdxjfcthyphenhyphenjtXenBI4F_jxwCX3NuOnoiMNNY_zHBrjy7zHCZevDpFFy83sB-BcJNV_vkD0jPqYxdl8yKxaLSSm73wdDv2ig3aTkTQHv82_/s1600/stalin.jpg- Hãy kể về gia đình anh đi.
- Vợ tôi là Nino Lomkatsi. Bộ tộc của cô ấy có gốc gác ở Tusheti (vùng núi cao phía đông Georgia). Chúng tôi sinh cháu năm 2009. Chúng tôi đặt tên cháu theo tên 5 đời bà là Olga-Ekaterina. Vấn đề là bà tôi và bà Nino theo phả hệ dòng họ đều gọi là Olga. Bởi chính Chúa sai khiến đặt tên con gái là Olga. Và cái tên Ekaterina gồm: Mẹ của Joseph Stalin là Ekaterina (Keke) Geladze, vợ đầu của ông (tức là bà cố của tôi) là Ekaterina (Kato) Svanidze và bà nội của cha tôi theo hệ dòng họ là Ekaterina Golysheva-Lukyanovskaya.
- Anh nghỉ ngơi như thế nào và đọc gì?
- Mười năm trở lại đây tôi nhìn chung quan tâm đến văn học lịch sử CCCP thời kỳ Stalin. Thỉnh thoảng tôi đọc tác phẩm cổ điển Georgia. Còn đến rạp hát hay phim thì tôi không có cả dịp lẫn thời gian…
- Tôi biết là người anh của anh đã làm được điều khác biệt trong lĩnh vực phim ảnh…
- Vâng, anh lớn của tôi Vissarion là đạo diễn phim và viết kịch bản. Đề tài tốt nghiệp “Camen” đã giành được giải thưởng Liên hoan phim quốc tế Oberhausen thể loại phim ngắn năm 1998. Năm 2000 anh ấy làm xong bộ phim tài liệu “Jacob – con của Stalin” kể lại cuộc đời và cái chết của bác con cả Stalin.
- Mà bị bắt làm tù binh Đức…
- Thật đáng tiếc là anh tôi, cũng như cả gia đình tôi, cũng như rất nhiều người khác, lại nằm trong quyền thế tuyên truyền Gebbel và Khruschev vì rằng Jakov trong trại tù binh Đức. Ít năm trước tôi đã có dịp mở lòng với nhà sử học Yury Ignatyevich Mukhin, người đã san phẳng những dối trá bịa đặt Gebbel-Khruschev về Jakov. Tư liệu có ở đây: http://jugashvili.com/press/kak_pogi...ugashvili.html ; Nội dung trang này đặt vấn đề, liệu có phải Jakov đã hy sinh hay bị bắt. Chúng ta biết rằng, ngoài truyền đơn in ảnh Jakov, không có bất cứ bằng chứng nào, kể cả các cuốn phim, băng ghi âm giọng nói… người trong ảnh lại có ngoại hình không giống Jakov cho lắm. Và trùm tuyên truyền Đức quốc xã Gebbel thì rất chuyên nghiệp, hồ sơ, biên bản hỏi cung hoàn toàn có thể giả mạo.
- Anh đã lập kế hoạch đấu tranh với những hoang đường đã bén rễ?
- Anh tôi đã xem xét các luận chứng lịch sử, tôi hoàn toàn đồng ý với anh ấy và bât giờ đang ấp ủ ý tưởng tạo một bộ phim mới về Jakov. Tôi nghĩ sẽ là rất nhạy cảm nếu như chúng tôi có thể minh chứng vào lúc này, không chỉ là đơn giản tuyên bố, Jakov đã không bị bắt làm tù binh, mà là đã hy sinh trong trận đánh gần Vitebsk vào tháng 7, và huyền thoại bác ấy trong trại tù binh là kết quả tuyên truyền của phát xít Đức.
- Con cái của anh ấy cũng đã lớn rồi chứ?
- Vâng, anh Vissarion có 2 con, Soso (Joseph) và Vaso (Vasily), chúng đã lớn, Soso 16 tuổi và có nhiều hy vọng, cháu nó chơi piano rất tuyệt và đã thực sự chơi cho dàn nhạc. Vaso thì mê tennis và tỏ ra chín chắn dù mới có 11 tuổi.
- Theo những gì chúng tôi biết, cũng như anh, thì cha anh, ông Evgenia Dzhugashvili, không có quan hệ tốt lắm với một số họ hàng…
- Tôi không còn giữ quan hệ với ai trong số họ nữa.
- Tại sao?
- Họ không thấy nhục bởi dối trá về Stalin, và một số trong họ thậm chí còn phát tán dối trá này. Tôi với họ không đi chung đường, khi mà tôi thấy nhục nhã vì những dối trá này, và tôi làm mọi cách có thể để phơi bày dối trá và cố gắng đem sự thật đến cho mọi người. Trên website PRESS tôi đã trưng bày các tư liệu mà mọi người cần phải biết, để những lời như thế này: Công bằng, Tổ quốc, Nhân dân – không là những âm thanh sáo rỗng. Vấn đề là ở chỗ, bịa đặt về Stalin và CCCP trong thời kỳ đó được tạo ra nhằm mục đích phá hoại uy tín lãnh đạo của đất nước, để đẩy mọi người tránh xa nỗ lực hiểu biết tính tự nhiên của các hiện tượng xảy ra trong thời của ông và vài trò của ông trong các sự kiện đó. Bịa đặt này không nhằm chống Stalin hay những người thân của ông, mà trước hết là chống nhân dân Nga. Bịa đặt đó là một mưu toan nhằm tước đoạt người từ Nga (và cùng với họ là nhân dân cùng với người Nga xây dựng nên xã hội đầu tiên trên thế giới thoát khỏi bọn ăn bám phương tây) sức kháng cự cả với các mối đe dọa bên trong và bên ngoài. Bịa đặt về Stalin là virus tạo ra bởi kẻ hạ đẳng để phá hoại cơ chế bảo vệ của con người, có trách nhiệm nhận thức các mối nguy hiểm. Cuối cùng, bịa đặt đó là mưu toan của giới bề trên hiện tại, biện bạch cho sự cướp bóc là thánh thiện mà nhân dân Xô Viết cần giữ gìn và tăng cường. Những sinh vật này làm suy yếu người ta và đảm bảo rằng chúng và dòng dõi ăn bám của chúng có thể tồn tại vĩnh cửu. Một số thứ nói cho tôi biết thứ “vĩnh cửu” này tồn tại không lâu nữa.. Tôi không thể nói chính xác, vì lý do gì mà hầu như tất cả họ hàng Stalin đều ủng hộ bịa đặt chống Stalin. Dường như mọi người đều có lý do của mình…

Việc đầu tiên "ân xá" Beria

Media phương tây gán cho Lenin “Khủng bố đỏ”, cho Stalin “Đại thanh trừng”, còn Beria là kẻ chịu trách nhiệm trực tiếp trong cuộc đại thanh trừng của Stalin. Chúng ta đã biết một phần chính lý do Stalin phải thanh trừng ở đây; Lavrenti Beria gắn liền với những tai tiếng tồi tệ nhất trong thời kỳ Liên Xô: hung thần, sát nhân, đồ tể… Nhưng thực sự có phải như thế không?
Câu trả lời là không!
Trong 2 năm 1939 - 1940 từ các trại GULAG đã phóng thích 270-290 ngàn người.
http://topwar.ru/uploads/posts/2013-09/1379562770_beriya640.jpgÂn xá năm 1953 được gọi là beriyevsky (ân xá Beria, mặc dù thời đó hay gọi là voroshilovsky), có 1,2 triệu tù nhân được thả, nó được gọi là "thắng lợi của chủ nghĩa nhân đạo hậu Stalin". Đợt ân xá nhân kỷ niệm 10 năm chiến thắng 1955 ít được biết đến hơn – trong đó các tù binh Đức, những kẻ cộng tác với phát xít được phóng thích. Và người ta hoàn toàn không nói gì về cuộc “ân xá” đầu tiên của Beria các năm 1939-1940.
Nói một cách nghiêm chỉnh, thì đó không phải là “ân xá” bởi người ta dùng nó trong ngoặc kép. Còn lý do của sự giấu diếm này thì chỉ có thể phỏng đoán, một trong số đó là người ta không muốn thêm “ánh sáng” vào Beria như một nhà lãnh đạo tích cực. Beria trong tiểu sử lịch sử chính thức là người nắm vai trò chính về cái gọi là "tội ác của chế độ Stalin". Là kẻ chịu trách nhiệm về hầu hết các vụ đàn áp thời kỳ đó mặc dù có một thực tế là Beria lãnh đạo tổ chức chấn áp (NKVD!) chỉ trong 6 năm, từ 1939 đến 1945. Và người ta khoác cho Beria mọi trách nhiệm về tất cả các cuộc đàn áp và vi phạm xảy ra cả trước và sau thời kỳ này – khi nó thuộc trách nhiệm của những người khác: từ Berry và Yezhov đến Abakumov.
Trái lại, chính trong thời kỳ lãnh đạo cơ quan an ninh của Beria, đã có nỗ lực đầu tiên trong suốt chế độ Stalin để thực thi pháp trị trong bộ máy trừng phạt của CCCP.
Niên ký vắn tắt vị trí của Beria trong NKVD: Ngày 22-8-1938 được bổ nhiệm phó thứ nhất Ủy ban nội vụ, 8-9 làm lãnh đạo thứ 1 NKVD, 11-9 làm ủy viên thứ nhất Hội đồng an ninh nhà nước, 29-9 làm người đứng đầu cơ quan an ninh quốc gia của NKVD. Ngày 25-11-1938 Beria được bổ nhiệm lãnh đạo nội vụ CCCP. Ngày 10-4-1939, Yezhov bị bắt vì tội hoạt động gián điệp, khủng bố và lật đổ.
http://topwar.ru/uploads/posts/2013-09/1379562706_beriya450.jpg Nikolay Yezhov, 1937. Photo: RIA Novosti news agency
Một trong những quyết định đầu tiên của Beria trên cương vị lãnh đạo NKVD ngày 1-1-1939 là về “Cục tiếp nhận và xem xét khiếu tố”. Ngày tháng đó có thể coi là khởi đầu cho việc xem xét lại một loạt các vụ án từ thời của người tiền nhiệm NKVD, đồng thời cũng vạch trần các vụ nhân viên an ninh “vi phạm pháp luật”.
Con số “tù phạm” được thả trong 1939–1940, như người ta nói là từ 50 ngàn đến 800 ngàn. Sự thực thì nằm đâu đó giữa 2 con số này.
Nếu như các phương pháp, mà theo đó tính toán con số được ân xá trong 1939–1940 mang nhiều tính lý thuyết, thì sự chỉ đạo về qui tắc trật tự của Beria ở NKVD lại có tài liệu rất rõ ràng chặt chẽ.
Ngay say khi nắm quyền NKVD, Beria bắt tay vào làm sạch cán bộ của Yezhov. Kể từ cuối tháng 11-1938 đến tháng 1-1939, trong bộ máy NKVD bị thải loại 7372 người (chiếm 22,9% tổng số), trong đó có 3830 là lãnh đạo (chiếm 62%).
Đây là ví dụ “thanh lọc” của Beria: Cuối tháng 1 -1939, Beria ký lệnh đưa ra tòa 13 tay chân của Yezhov trong cơ quan quản lý đường sắt Mat-xcơ-va-Kiev vì bắt bớ người trái thẩm quyền, ngày 13-2-1939, Beria ra lệnh đưa lãnh đạo khu vực của NKVD N. Sakharchuk ra tòa vì thực hiện các biện pháp tội lỗi gây hậu quả, ngày 5-2, Beria ra lệnh bắt nhóm nhân viên cơ quan đặc biệt của Hạm đội Baltic vì bắt bớ không có căn cứ. Những vụ việc như thế diễn ra suốt cả năm 1939.
Cùng lúc, NKVD tuyển dụng 14,506 người, trong đó 11,062 từ đảng và đoàn viên Komsomol. Thực sự, 1/3 cơ cấu của NKVD trước kia là nhân viên dân sự, tỷ lệ có học vấn cao đến 35% (thời Yezhov chỉ 10 %) Toàn bộ lực lượng NKVD có tỷ lệ không được giáo dục phổ thông giảm từ 42% xuống 18%. Một nguồn nhân lực khác của NKVD đến từ quân đội. Ngày 27-1-1939, lãnh đạo quân đội Shchadenko công số sắc lệnh No. 010 đơn giản hóa bên quân đội cho các học viên trẻ tốt nghiệp Học viện quân sự RKKA sang làm nhiệm vụ theo điều động của NKVD. Bên cạnh đó, các sĩ quan RKKA cũ, trong giai đoạn 1937-1938 bị Beria xem xét lại: 30 ngàn người bị bị điều tra vì các lý do chính trị, trong đó gần 10 ngàn bị buộc tội. Phục hồi lại hàng ngũ cho 12,5 ngàn sĩ quan sau khi thay đổi lãnh đạo.
Trong những tháng lãnh đạo đầu tiên, Beria đã xem xét lại xong toàn bộ qui tắc thẩm quyền quản lý các vụ án. Kẻ bị kết án bởi “bộ ba” bây giờ có thế khiếu kiện và bị buộc phải xem xét trong vòng 20 ngày. Để giải quyết đơn từ và khiếu kiện, nhóm chuyên trách gồm 15 người được lập thành Ban thư ký thảo luận. Trong quá trình xét xử, nhóm có trách nhiệm xét hỏi tất cả các thành viên tham gia. Số các vụ việc phải đưa đến thẩm phán giải quyết giảm 10 lần – nếu thời Yezhov mỗi ngày phải giải quyết 200-300 vụ, (thực tế là chỉ đọc bản án, không thẩm vấn người làm chứng và điều tra). Thời Beria chỉ còn dưới 10 vụ mỗi ngày.
Điểm đặc biệt của cải cách Beria này, không phải là phó thác cho bên công tố hay tòa án, mà là cho chính NKVD dưới quyền lãnh đạo của mình chịu trách nhiệm.
http://topwar.ru/uploads/posts/2013-09/1379562708_beriya600.jpg Các tù nhân trại cải tạo lao động GULAG, 1940. Photo: TASS photochronicle
Các vụ án chính trị, kể từ 1939 đã giảm 10 lần – thời đại "Đại khủng bố" đã thực sự kết thúc. Năm 1939 số người bị kết án tội phản cách mạng bị trừng phạt ở mức cao nhất 2600 người, năm 1940 là 1600 (so sánh với 1937-1938 khoảng 680 ngàn bị tử hình). Nhưng cũng cần hiểu rằng, con số tử hình thời kỳ trước cao như vậy, là gồm cả bọn phá hoại và gián điệp, nhìn chung ở lãnh thổ phía bắc và tây sát nhập vào Xô Viết (Baltic, Bukovina, Moldova và Tây Ukraine).
Có những tự do hóa cho tù nhân: họ được sử dụng phòng đọc sách và các trò chơi giải trí, các qui định nhận đồ tiếp tế và gặp mặt người thân được lập ra.
Beria cũng là người sáng chế ra cái gọi là "sharashka" – các cơ sở nghiên cứu và sản xuất quốc phòng và các tù nhân khoa học được sống và lao động trong điều kiện nhẹ nhàng hơn. Nhiều tù nhân, là các nhà khoa học nổi tiếng, từng ở sharashka: A. Tupolev, V. Myasishchev, V. Petlyakov, Bartini, N. Vavilov, A. Chizhevsky, P. Oshchepkov, Oparin, Y. B. Rumer, I. S. Filimonenko…
Cũng năm 1939, Beria bắt đầu xem xét vấn đề tù nhân, cuộc “ân xá” đầu tiên bắt đầu. Tiến sĩ sử học V. Zemskov cho biết:
"Tất cả GULAG năm 1939 có 327,400 người (223,600 từ các trại lao động và 103,800 từ các trại giam) được phóng thích, nhưng người ta ít nói về các con số trong trường hợp này, bởi không có chỉ dẫn trong số họ có bao nhiêu phần trăm “kẻ thù nhân dân” được trả tự do trước thời hạn và được phục hồi thân thế. Chúng ta biết là ngày 1-1-1941 ở Kolyma có 34 ngàn người trại lao động được phóng thích, trong số họ 3000 người (8,8%) được phục hồi hoàn toàn.
Ngày 1-1-1939 tổng số tù nhân là 1,672,000 người. Nếu như lấy con số trung bình của Zemskov (8,8%) cho tất cả các trại GULAG, thì cuộc ân xá đầu tiên của Beria đã trả tự do khoảng 140 ngàn người. Các nhà nghiên cứu khác cũng tính toán ra con số gần như thế (từ 130 ngàn đến 150 ngàn), tuy nhiên, cần phải hiểu là phần lớn không được phục hồi thân thế, mà chỉ là giảm thời hạn xuống mức tối thiểu (1-2 năm), hay chuyển sang tình trạng đi đày (giảm mức phạt).
May mắn hơn cho những ai, cho đến 11-1938 chưa bị lĩnh án phạt, và đang bị tạm giam. Nhà sử học bên an ninh Oleg Mozokhin cung cấp số liệu chính xác về điều này. Thành ra đến 1-1-1939, trong số đang bị điều tra có 149,426 người, được thả vì bị đình chỉ xét xử là 83,151, được thả bởi viện kiểm soát và được tuyên trắng án là 25,575 người. Chỉ có 187,840 người bị kết án năm 1939, nửa đầu 1941 có 142,432 người được thả trong quá trình điều tra và xét xử. Đó cũng là “ân xá” ở quá trình điều tra chuẩn xác, tránh oan sai.
Do vậy, tính tổng số “ân xá” Beria đầu tiên, những người được trả tự do hay không phải vào trại GULAG, khoảng 270-290 ngàn người.
Nhưng không phải vì thế mà cho rằng Beria là chủ nghĩa nhân đạo. Không phải Beria mà chính xác hơn là Stalin, cũng không phải là nhân từ hơn mà là NKVD đã linh hoạt hơn. Beria đã tính toán chuẩn xác rằng “ân xá” cho 200-300 ngàn người sẽ đem lại nhiều lợi ích hơn cho công việc, hơn là trong trại lao động, chiến tranh đang đến gần, họ trở lại nhà máy, trở lại phòng thí nghiệm và quân đội.
Beria cũng là người làm cho các trại lao động GULAG thành như một đơn vị kinh tế có giá trị của CCCP. Không cần những cái án tử hình, mà coi những người tù như một đơn vị lao động, như cỗ máy hay như công cụ lao động, và cũng cần phải giữ gìn (vào năm 1939 con số chết trong GULAG giảm mạnh đến 2 lần, và so năm 1941 với 1938 là 3 lần). Giai đoạn 1941-1944 các công trình xây dựng do NKVD điều hành thực hiện có giá trị 14,2 tỷ rub hay chiếm 15% tổng số tất cả các giá trị công trình của nền kinh tế Xô Viết trong thời kỳ này.
Cùng cách tiếp cận “kỹ thuật” Beria như thế đối với cuộc Chiến tranh vệ quốc vĩ đại, những người lính cần cho tổ quốc và từ GULAG đã có hơn 800 ngàn người ra mặt trận. Họ được biết đến như những phạm binh - штрафбаты.
Hiện nay, Beria cần được đánh giá không phải là tên đồ tể, mà như một nhà kỹ trị, nhà quản trị có hiệu quả và cũng là người, đã sửa chữa một thời kỳ đổ máu.

Xem thêm:

Hồ sơ mật Liên Xô
Nhà xuất bản Công an Nhân dân

25 tháng 11 2014

VIỆT NAM, Nỗi Đau Da Cam, VÀ GMOS

VIỆT NAM, Nỗi Đau Da Cam, VÀ GMOS

Một nhà sản xuất Chất độc Da cam đang được chào đón trở lại Việt Nam để phát triển sinh vật biến đổi gen.
Bài viết của Brian Leung

Ngày 24 tháng 11 năm 2014

Việt Nam tiếp tục trải thảm đỏ cho những gã khổng lồ công nghệ sinh học nước ngoài, bao gồm cả cái tên Monsanto khét tiếng, để bán các giống ngô biến đổi gen (GM) gây tranh cãi trong nước. Những nhà bình luận nói rằng bằng cách chào đón Monsanto, Việt Nam đã tỏ ra quá ưu ái đối với nhà sản xuất chính của Chất độc Da cam (Agent Orange) – chất làm rụng lá độc hại sử dụng trong Chiến tranh Việt Nam mà đã để lại một di sản tàn phá vẫn tiếp tục gây thêm nhiều nạn nhân cho đến tận ngày hôm nay.


Theo báo cáo trên các phương tiện truyền thông của Việt Nam, trong tháng 8/2014, Bộ Nông nghiệp của đất nước này đã thông qua việc nhập khẩu của bốn giống ngô được thiết kế gen để dùng trong chế biến thực phẩm và thức ăn gia súc: MON 89034 và NK 603, sản phẩm của DeKalb Việt Nam (một chi nhánh của công ty đa quốc gia Monsanto, Mỹ), và GA 21 và MIR 162 từ công ty Thụy Sĩ Syngenta. (Xem It’s official: Vietnam licenses genetically modified organisms -ND).

Bộ Môi trường Việt Nam cho đến nay đã cấp giấy chứng nhận an toàn sinh học cho các giống ngô MON 89034 và NK 603 của Monsanto và giống ngô GA 21 của Syngenta, nghĩa là nông dân có thể bắt đầu canh tác thương mại hóa/đại trà các loại cây trồng biến đổi gen. Bộ đang xem xét cấp giấy chứng nhận tương tự cho nhiều loại khác, ví dụ MR 162. Với bối cảnh chính trị hiện tại, có vẻ như sự thông qua đó chỉ là vấn đề thời gian. (Xem Ngô biến đổi gen đầu tiên được cấp chứng nhận an toàn sinh học -ND)

Năm 2006, Chính phủ Việt Nam đã xây dựng một kế hoạch đầy tham vọng để phát triển cây trồng GM như là một phần của một “chương trình lớn cho sự phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp và phát triển nông thôn”. Theo kế hoạch, Việt Nam đang tìm cách để trồng đại trà vụ GM đầu tiên vào năm 2015 và sử dụng 30-50% phần trăm đất nông nghiệp của đất nước cho việc canh tác với sinh vật biến đổi gen (GMOs) vào năm 2020.

Các nhà hoạt động môi trường đã ghi nhận sự thật trớ trêu rằng, trong khi ngày càng nhiều người Mỹ và người dân ở những nơi khác trên thế giới đang rất nỗ lực nổi dậy chống lại biến đổi gen, Việt Nam lại đang ném đi một lợi thế lớn của đất nước như là một nhà sản xuất không biến đổi gen. Bà Marcia Ishii-Eiteman, nhà khoa học cấp cao của Mạng lưới Hành động về Thuốc trừ sâu Bắc Mỹ có trụ sở tại Mỹ nói: “Ngày càng nhiều nước trên thế giới đang từ chối GMOs, với sự chống đối công khai phát triển hàng ngày. Trên khắp châu Âu và nhiều nước châu Á, Mỹ Latinh và châu Phi, người dân và thông thường cả chính phủ của họ loại bỏ hạt giống biến đổi gen như là một công nghệ cũ đã thất bại để cung cấp theo những hứa hẹn”.

Theo New York Times, một sự đột biến chưa từng có trong phong trào người tiêu dùng từ chối GMOs đã được chứng kiến ở Mỹ, với các công ty thực phẩm tranh giành nhau để đảm bảo những nguồn cung không biến đổi gen. Châu Âu đã buộc toàn bộ ngành công nghiệp thực phẩm của mình phải loại bỏ hoàn toàn GMOs. Như một trường hợp điển hình, các nhà chức trách châu Âu đã từ chối 99% ngô nhập khẩu từ Mỹ tại thời điểm khi mà chỉ có 25% ngô của Mỹ là bị biến đổi gen. Năm ngoái, Trung Quốc đã từ chối nhập cảng 887 nghìn tấn ngô của Mỹ bởi vì đó là giống ngô biến đổi gen MIR 162 của Syngenta – cùng một giống ngô vừa được cấp phép sử dụng tại Việt Nam. (Xem China cancels U.S. corn purchases as GMO dispute drags on -ND).

Báo cáo Đánh giá Quốc tế về Kiến thức Nông nghiệp, Khoa học và Công nghệ cho Phát triển đã đánh giá từ phân tích toàn diện nhất của ngành nông nghiệp và phát triển bền vững trong lịch sử, kết luận rằng chi phí cao của các hạt giống biến đổi gen và các hóa chất, sản lượng không chắc chắn, và tiềm năng làm suy yếu an ninh lương thực của địa phương, làm cho công nghệ sinh học này trở thành một lựa chọn rất tồi cho các nước đang phát triển. Theo báo cáo, GMOs trong tình trạng hiện tại không có gì để cung cấp giải pháp cho nạn đói ăn, giảm nghèo, hay tạo ra nông nghiệp bền vững.

Theo một báo cáo của Friends of the Earth International, một mạng lưới quốc tế của các tổ chức môi trường ở 74 quốc gia, hiện có sáu công ty đa quốc gia – Monsanto, Syngenta, Du Pont, Bayer, Dow, và BASF – đang kiểm soát gần 2/3 của thị trường toàn cầu cho hạt giống, 3/4 thị phần bán hàng hoá chất nông nghiệp, và toàn bộ thị trường hạt giống GM.

Sự chào đón nồng nhiệt

Monsanto là nhà sản xuất chính của Chất độc Da cam trong Chiến tranh Việt Nam, cuộc chiến kết thúc vào năm 1975. Việt Nam khẳng định các chất hóa học làm rụng lá độc hại vẫn còn đang giết chết thêm nhiều nạn nhân cho đến ngày hôm nay. Trong chiến tranh, khoảng 2.1 cho đến 4.8 triệu người Việt Nam đã bị tiếp xúc trực tiếp với Chất độc Da cam và các hoá chất khác được biết tới như nguyên nhân gây bệnh ung thư, dị tật bẩm sinh, và các bệnh mãn tính khác, theo Hội Chữ thập đỏ Việt Nam. Các nhà hoạt động cho rằng sự giới thiệu ngô biến đổi gen của Monsanto và thuốc diệt cỏ Roundup – chất hóa học bắt buộc phải sử dụng trong gói sản phẩm với các loại cây trồng của Monsanto – có thể báo hiệu một sự lặp lại thảm kịch của Chất độc Da cam.

Jeffrey Smith, tác giả của cuốn sách bán chạy nhất “Hạt giống Lừa dối” (Seeds of Deception), đồng thời là người sáng lập và giám đốc điều hành của một tổ chức phi chính phủ Trách nhiệm về Công nghệ (NGO Institute for Responsible Technology) ở California, Mỹ, đã nói: “Điều đó thật trớ trêu khi Việt Nam vẫn đang phải chịu đựng hậu quả từ các loại thuốc diệt cỏ Chất độc Da cam được sản xuất bởi công ty Monsanto, đã tung ra trong chiến tranh. Điều đã được chỉ ra rõ ràng là thuốc diệt cỏ Roundup, cũng được sản xuất bởi công ty Monsanto, và được sử dụng trên hầu hết các loại cây trồng biến đổi gen, cũng liên quan đến các dị tật bẩm sinh“. Ông cho biết: “Bằng chứng này được tìm thấy trong các nghiên cứu riêng của Monsanto, cũng như kinh nghiệm của ngày hôm nay tại Argentina và các nước khác, nơi dân chúng đang phải chứng kiến một sự tăng vọt của các dị tật bẩm sinh khi tiếp xúc với thuốc diệt cỏ dại nguy hiểm này. Các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm đã chứng minh rằng khi để phôi tiếp xúc với Roundup gây ra cùng một loại khuyết tật bẩm sinh mà những người nông dân sống gần khu vực phun thuốc Roundup đã trải qua. Tương tự như vậy, những vật nuôi gia súc tiêu thụ cây trồng kháng Roundup có tỷ lệ cao mắc cùng một loại khuyết tật bẩm sinh“. (Xem Argentines link health problems to agrochemicals -ND)

Các nhà hoạt động nói rằng các giống ngô biến đổi gen mà gần đây đã được thông qua ở Việt Nam chỉ là đỉnh của tảng băng trôi. Khi các công ty GMO này có thể theo đúng quy định pháp lý đi vào Việt Nam, và thiết lập tiền lệ cho sự thông qua của chính phủ đối với các sản phẩm của họ, họ không giấu diếm rằng sẽ nhanh chóng đẩy mạnh các sản phẩm GMO/thuốc diệt cỏ nguy hiểm hơn. Thay vì làm giảm nhu cầu đối với thuốc trừ sâu, cây biến đổi gen (GE) đã dẫn đến làm gia tăng nhu cầu với thuốc diệt cỏ. Hạt giống kháng thuốc diệt cỏ đòi hỏi một sự gia tăng lớn trong việc sử dụng thuốc diệt cỏ còn liên quan đến những vấn đề nghiêm trọng về sức khỏe môi trường và cộng đồng.

Theo Ishii-Eiteman của Mạng lưới Hành động về Thuốc trừ sâu Bắc Mỹ: “Các bí mật nhỏ bẩn thỉu của ngành công nghiệp thuốc trừ sâu nằm ở hạt giống kháng thuốc diệt cỏ biến đổi gen như là những động lực tăng trưởng doanh thu của ngành công nghiệp và chiến lược marketing. Những hạt giống này là một phần của một gói công nghệ được thiết kế một cách rõ ràng để khuyến khích sự sử dụng tăng dần và bừa bãi các thuốc diệt cỏ và đẩy mạnh doanh thu mặt hàng hóa chất bán được”. Theo các nhà hoạt động, nông dân không muốn bị lâm vào bế tắc trong một thị trường hạt giống được kiểm soát bởi Monsanto và Syngenta (Monsanto đã kiểm soát hơn một phần tư thị trường hạt giống toàn cầu, và bốn công ty thuốc trừ sâu/công nghệ sinh học hàng đầu kiểm soát hơn một nửa số hạt giống thương mại của thế giới). Họ chỉ ra rằng người trồng ngô ở Mỹ hầu như không thể tìm thấy hạt giống không biến đổi gen hiện nay, vì Monsanto đã bảo đảm một sự kiểm soát độc quyền trên thị trường hạt giống Mỹ.

Nhưng bất chấp sự phản đối mạnh mẽ công ty đã phải đối mặt ở những nơi khác trên thế giới, Monsanto đã nhận được sự chào đón nồng nhiệt tại Việt Nam. Cuối tháng Một năm ngoái,  Monsanto đã được vinh danh là một “công ty nông nghiệp bền vững” tại một hoạt động quốc gia. (Xem Monsanto vì sự nghiệp phát triển nông nghiệp VN bền vững -ND)

Tháng trước, Monsanto công bố một học bổng 1.5 tỷ đồng ($70 500) nhằm tài trợ cho các nghiên cứu về công nghệ sinh học tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam.

Học bổng này nhằm mục đích để nuôi dưỡng và khuyến khích sự tham gia của các tài năng trẻ trong sự phát triển của công nghệ sinh học nông nghiệp và sản phẩm của chúng để hỗ trợ nông dân”, Monsanto cho biết trên trang web của mình. Công ty dẫn lời Trần Đức Viên, Giám đốc Học viện, cho biết: “Công nghệ sinh học là một ngành đầy hứa hẹn của khoa học trong thế kỷ 21, cung cấp khả năng tuyệt vời trong việc cải thiện cuộc sống của con người theo những cách khác nhau. Trong nông nghiệp, công nghệ sinh học đã được chứng minh để cải thiện cuộc sống của hơn 18 triệu nông dân trên khắp thế giới. Chính phủ Việt Nam đã xác định trong việc đưa và phát triển công nghệ này ở Việt Nam, và đã tập trung vào việc phát triển vật chất và nhân lực trong lĩnh vực công nghệ sinh học. Chúng tôi rất vui mừng khi thấy sự tham gia của khu vực tư nhân trong quá trình này và đánh giá cao Monsanto về cam kết của họ trong việc phát triển tài năng trong công nghệ sinh học nông nghiệp.”

Vị thế đó của Monsanto rất phù hợp với thái độ của các quan chức Việt Nam thể hiện niềm tin rằng sự ra đời của các loại cây trồng GM là một kết luận hợp lý của những nỗ lực để cải thiện năng suất và để nuôi một dân số ngày càng tăng của khoảng 90 triệu người ở một mức giá hợp lý. Monsanto và những người ủng hộ của nó đã thúc đẩy GMO như một giải pháp đầy hứa hẹn cho những mối quan tâm an ninh lương thực của Việt Nam.

Những người ở phía đối lập không đồng ý. Với thực tế rằng Việt Nam đã thể hiện sự sẵn sàng để ký các Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương dẫn đầu bởi Mỹ (TPP), các nhà hoạt động lo ngại rằng Mỹ đang cố gắng sử dụng các điều ước quốc tế để áp đặt các quy định hạn chế sở hữu trí tuệ – điều có thể chứng minh mức độ rất có hại cho các nước đang phát triển. Họ nói rằng TPP, nếu đã ký kết, sẽ mở đường cho các công ty giống như Monsanto tận dụng ngón đòn sở hữu bằng sáng chế trí tuệ về GMO của họ tại Việt Nam.

Genna Reed, một nhà nghiên cứu tại Tổ chức Giám sát Thực phẩm & Nước, có trụ sở tại Washington DC, cho biết: “Theo quy định của TPP, các công ty dược phẩm và công ty hạt giống sẽ có quyền không bị giới hạn, cho phép họ kéo dài sự độc quyền của mình về bằng sáng chế để giữ giá cao cho dược phẩm và thuốc trong thời gian dài hơn, và để giữ giá cao cho hạt giống với bằng sáng chế. TPP cũng sẽ khiến cho việc chống lại các bằng sáng chế phi lý khó khăn hơn, và cũng làm cho các phiên bản của dược phẩm và thuốc khó khăn hơn để trở nên có sẵn trong khu vực Thái Bình Dương. Thỏa thuận thương mại và thực thi quyền sở hữu trí tuệ này sẽ làm tăng giá các loại thuốc thiết yếu và các loại hạt giống, cũng như khó khăn hơn để có mặt trên thị trường”.

Smith, tác giả của cuốn sách Hạt giống Lừa dối, đã tổng kết điều này: “Đây là một bước ranh giới nguy hiểm khỏi chủ quyền quốc gia cho Việt Nam và nông dân của quốc gia này. Hiệp định TPP đã được thiết kế chủ yếu từ các mối quan tâm của doanh nghiệp Mỹ cho lợi ích kinh doanh của Mỹ”.

Brian Leung là một nhà báo khu vực Đông Nam Á.
Người dịch: Phạm Thu Hường
*****
Vietnam, Agent Orange, and GMOs

Vietnam continues to roll out the red carpet for foreign biotech giants, including the infamous Monsanto, to sell the controversial genetically modified (GM) corn varieties in the country. Critics say that by welcoming Monsanto, Vietnam has been too nice to the main manufacturer of Agent Orange, the toxic defoliant used during the Vietnam War that left a devastating legacy still claiming victims today.

According to Vietnamese media reports, in August that country’s agriculture ministry approved the imports of four corn varieties engineered for food and animal feed processing: MON 89034 and NK 603, products of DeKalb Vietnam (a subsidiary of U.S. multinational Monsanto), and GA 21 and MIR 162 from the Swiss firm Syngenta.

The Vietnamese environment ministry has to date issued bio-safety certificates for Monsanto’s MON 89034 and NK 603 corn varieties and Syngenta’s GA 21, meaning farmers can start commercially cultivating the crops. The ministry is considering issuing a similar certificate for the other variety, MR 162. Given the current political landscape, it seems that approval is just a matter of time.

In 2006, the Vietnamese government formulated an ambitious plan to develop GM crops as part of a “major program for the development and application of biotechnology in agriculture and rural development.” Under the blueprint, Vietnam is looking to cultivate its first GM crops by 2015 and have 30-50 percent of the country’s farmland covered with genetically modified organisms (GMOs) by 2020.

Environmental activists have noted the irony that just as Americans and people elsewhere around the world are revolting against GMOs in greater numbers, Vietnam is throwing away its great advantage as a non-GMO producer. “Increasingly countries around the world are rejecting GMOs, with public opposition growing daily. Across Europe and much of Asia, Latin America and Africa, people and often their governments are rejecting GMO seeds as an old technology that has failed to deliver on its promises,” said Marcia Ishii-Eiteman, senior scientist at the U.S.-based Pesticide Action Network North America.

The has been an unprecedented surge in consumer rejection of GMOs in the U.S., with food companies scrambling to secure non-GMO supplies, according to the New York Times. Europe forced its entire food industry to jettison GMOs altogether. In one prominent case, European authorities shut down 99 percent of corn imports from the U.S. at a time when only 25 percent of the corn was genetically engineered. Last year, China rejected 887,000 tons of U.S. corn because it contained Syngenta’s GM maize MIR 162 – the very same variety that has just been licensed for use in Vietnam.

The International Assessment of Agricultural Knowledge, Science and Technology for Development report, considered the most exhaustive analysis of agriculture and sustainability in history, concludes that the high costs of seeds and chemicals, uncertain yields, and the potential to undermine local food security make biotechnology a poor choice for the developing world. GMOs in their current state have nothing to offer the cause of feeding the hungry, alleviating poverty, and creating sustainable agriculture, according to the report. Six multinationals – Monsanto, Syngenta, Du Pont, Bayer, Dow, and BASF – now control almost two-thirds of the global market for seeds, three quarters of agro-chemicals sales, and the entire GM seed market, according to a report by Friends of the Earth International, an international network of environmental organizations in 74 countries.

Warm Welcome

Monsanto was the main manufacturer of Agent Orange during the Vietnam War, which ended in 1975. Vietnam claims the toxic defoliant is still killing victims today. Between 2.1 to 4.8 million Vietnamese were directly exposed to Agent Orange and other chemicals that have been linked to cancers, birth defects, and other chronic diseases during the war, according to the Vietnam Red Cross. Activists claim that introducing Monsanto’s modified corn and the toxic weed killer Roundup Monsanto plugs for use along with its crops could signal a repeat of the tragedy of Agent Orange.

“It’s ironic that Vietnam is still suffering from the Agent Orange herbicide produced by Monsanto, unleashed during the war. It turns out that Roundup herbicide, also produced by Monsanto, and used on most GMO crops, is also linked to birth defects,” said Jeffrey Smith, author of the bestselling Seeds of Deception and founder and executive director of the California, U.S.-based NGO Institute for Responsible Technology. “This evidence is found in Monsanto’s own research, as well as experience today in Argentina and other countries where populations are experiencing a skyrocketing of birth defects when exposed to this dangerous weed killer. Lab studies have demonstrated that exposing embryos to Roundup causes the same type of birth defects experience by the peasants living near the Roundup sprayed fields. Similarly, livestock consuming Roundup ready crops have high incidences the same type of birth defects,” Smith said.

Activists say the GMO corn varieties that have been recently approved in Vietnam are just the tip of the iceberg. As these GMO companies make regulatory headway into Vietnam, and establish precedent for government approval of their products, they will soon be pushing more dangerous GMO/herbicide products, they say. Rather than reducing the need for pesticides, genetically engineered (GE) crops have led to rising use of herbicides. Herbicide-resistant seeds require a massive increase in herbicide use that has been linked to significant environmental and public health concerns.
According to Ishii-Eiteman of the Pesticide Action Network North America: “The dirty little secret of the pesticide industry is that genetically engineered, herbicide-resistant seeds are the growth engines of that industry’s sales and marketing strategy. These seeds are part of a technology package explicitly designed to facilitate increased, indiscriminate herbicide use and pump up chemical sales.” According to the activists, farmers do not want to be locked into a seed market controlled by Monsanto and Syngenta (Monsanto already controls more than a quarter of the global seed market, and the top four pesticide/biotech companies control over half of the world’s commercial seeds). They point out that corn farmers in the U.S. are virtually unable to find non-GMO seed now, because Monsanto has secured a monopoly control over the U.S. seed market.

But despite the fierce opposition it has faced elsewhere in the world, Monsanto has received a hearty welcome in Vietnam. Last January, it was honored as a “sustainable agriculture company” at a national function. Last month, Monsanto announced a VND 1.5 billion ($70,500) scholarship aimed at funding the study of biotechnology at the Vietnam University of Agriculture. “This scholarship aims to nurture and encourage the engagement of young talents in the development of agricultural biotechnology and products thereof to support farmers,” Monsanto said in its blog. It quoted Tran Duc Vien, the school rector, as saying: “Biotechnology is a promising branch of science in the 21st century, offering great possibilities in improving human lives in various ways. In agriculture, biotechnology has been proved to improve lives of over 18 million farmers around the world. The Government of Vietnam is determined in bringing and developing this technology in Vietnam, and has focused on developing physical and human capacity in the biotechnology sector. We are glad to see the participation of the private sector in this process and highly appreciate Monsanto for their commitment in developing talents in agricultural biotechnology.”

That position is very much in line with the attitude of the Vietnamese officials who appear to believe that the introduction of GM crops is a logical conclusion of efforts to improve yields and feed a growing population of around 90 million people at a reasonable price. Monsanto and its proponents have promoted GMOs as a highly promising solution to Vietnam’s food security concerns.

Its opponents disagree. Given that Vietnam has indicated its willingness to sign the U..S-led Trans-Pacific Partnership (TPP), activists are concerned that the U.S. is trying to use the treaty to impose restrictive intellectual property rules that could prove highly damaging to developing countries. They say the TPP, if signed, would pave the way for seed companies like Monsanto to iron out its GMO patent wrinkles in Vietnam.

Genna Reed, a researcher at the Washington D.C.-based Food & Water Watch, said: “Under the rules of the TPP, pharmaceutical firms and seed companies would have unrestrained power, allowing them to lengthen their monopolies on patents to keep generics out and drug prices high for longer periods of time, and to keep the prices of patented seeds high. The TPP would also make it more difficult to make a case against unjustified patents and harder for generic versions of drugs to become available in the Pacific region. This trade deal and the enforcement of intellectual property rights will make essential drugs and seeds more expensive and harder to come by.” Smith, the author of Seeds of Deception, summed it up: “This is a dangerous march away from national sovereignty for Vietnam and its farmers. The TPP has been designed primarily by US business interests for US business interests.”

Brian Leung is a Southeast Asia-based journalist.

Phạm uyên Bác sưu tầm


11-Nov-2011
... Thật là một đại họa cho VN vì hiện giờ nhà cầm quyền đã cho phép Monsanto nhập vào biết bao là sản phẩm GMO. Trong đó, Bắp GMO đang tung hoành và tràn lan khắp nước ! Nhà cầm quyền VN khi cho phép giống bắp này của Monsanto sinh sôi nẩy nở trong nuớc đã không hiểu rằng phấn của nó sẽ lây DNA qua tất cả tất cả bắp VN. Nó sẽ làm hại Ong, Buớm, và tất cả những sinh vật nào ăn lá, rể, hạt của nó. Nó còn gây bịnh ung thư cho nguời dân trong đuờng dài như đã xảy ra tại Nam Mỹ, Phi Châu và gây thảm họa phá sản nông dân tự tử như tại Ân Độ ...

Chúng tôi xin gửi đến tất cả quý vị những thông tin này để phổ biến rộng rãi hầu cảnh giác mọi người đặc biệt là các quý vị có trọng trách với nền nông nghiệp và sản xuất thực phẩm ở Việt Nam. Ý thức được thông tin này, nghiên cứu phương cách đối phó để tránh cho dân tộc một mối hoạ, nguy hiểm hơn cả chất độc da cam. 

California, ngày 6 tháng 11 năm 2011

Một tài liệu khá dài , nhưng nên đọc cho biết vì có liên quan trục tiếp đến thực phẩm và sức khoẻ con người Monsanto : Một hiện tượng kỳ quái của Hoa Kỳ?

PHẦN 1: Monsanto Và Hạt Giống 
logo
Ai làm chủ hạt giống sẽ làm chủ thực phẩm, ai làm chủ đuợc thực phẩm sẽ làm chủ thế giới..” (Monsanto)

Nông nghiệp Biến Giống DNA sẽ chiếm đóng ngay trong Tòa Bạch Ốc, bất kỳ ai thắng cử Tổng Thống vào tháng 11..” (Monsanto)


- Trong thập niên 60, nông dân Mỹ thường dùng chất DDT để diệt trừ sâu bọ phá họai mùa màng. Sau đó, người ta khám phá ra là chất này khi phun lên rau cải, sẽ gây ra bịnh ung thư cho người tiêu thụ nên đã bị cấm dùng.

- Năm 1970, một tập đoàn công ty hóa chất có tên là Monsanto đã phát minh ra hóa chất diệt cỏ dại tên là “Round Up”. Sản phẩm này có mục đích là giúp nông dân dịệt hết cỏ hoang mọc trong nông trại của họ. Khi xịt chất này trên ruộng đồng, tất cả cỏ dại đều chết tiệt. “Round Up” chính là cha đẻ của chất da cam mà sau đó quân đội Hoa Kỳ đã đem thí nghiệm tại chiến trường VN vào thập niên 70.       

- Monsanto đã chế ra chất diệt cỏ cực mạnh, giờ họ lại chế ra giống cây chịu đựng đuợc chính chất diệt cỏ đó. Trong phòng thí nghiệm trồng loại cây này, bất cứ sâu bọ nào ăn nhằm lá, rể, củ, hoa,.. của những giống này đều bị chết sạch.
- Sau khi chế thuốc diệt cỏ xong, Monsanto đi một bước tới vô cùng nguy hiểm cho nhân loài đó là BIẾN ĐỔI GIEN của cây cỏ nông nghiệp (sẽ trình bày trong phần 4) . Đầu tiên, họ phun chất “Round Up” với nồng độ cực mạnh lên chổ thí nghiệm rồi dùng lửa đốt cháy chổ đó. Họ khám phá ra là có 1 lọai vi khuẩn không bị hề hấn gì. Họ dùng DNA của vi khuẩn này và ghép vào cây trồng trọt. Kết quả là họ cho ra đời một giống cây nông nghiệp có sức chịu đựng kinh khủng đối với lửa, tuyết, khí hậu khắc nghiệt và chất diệt cỏ của họ.

- Nhưng Monsanto đã không dừng lại ở đây đâu. Buớc kế tiếp của họ là đem ra những hạt giống biến đổi Gien này đi đăng ký để giử chủ quyền. Sau nhiều lần thất bại tại địa phương, họ đã thắng kiện tại Tòa Tối Cao của Hoa Kỳ vào năm 1997. Việc này có nghĩa là gì? Theo phán quyết của Tòa, Monsanto đuợc làm chủ lọai cây giống nào do họ biến đổi DNA và nguy hiểm hơn, họ sẽ có chủ quyền luôn với tất cả bất cứ vật gì, cây gì, thứ gì có mang cái DNA đó: nếu nó di truyền tới đâu, họ sẽ có chủ quyền ở đó.

- Việc hợp thức hóa việc làm của Monsanto của lụật pháp là một việc kinh khủng vì từ nay về sau, họ sẽ làm chủ và toàn quyền kiểm soát sinh vật, thực vật và sự sống trên quả địa cầu qua sự ghép Gien và phối giống của họ.

- Chưa hết, Monsanto sau khi đuợc mở đường, họ liền mua hầu hết tất cả các công ty hạt giống nguyên thủy và sau đó biến đổi hết DNA của chúng. Họ đã đem đi đăng ký chủ quyền và đã nắm trong tay hơn… 11,000 hạt giống trên thế giới.

- Còn KINH KHỦNG hơn nữa, Monsanto còn tạo ra một lọai hạt giống có Gien VÔ SINH. Hạt giống này sau khi cho ra hạt, chúng sẽ không thể trồng lại cho vụ mùa tới. Chúng là giống đã bị triệt sản: chĩ trồng được 1 lần thôi. Nếu phấn của chúng bay qua và phối hợp với giống khác, giống đó cũng sẽ mang Gien vô sinh. Bạn nghĩ thế nào nếu con người, chim chóc, thú vật đã ăn phải lọai thực phẩm vô sản này? Xin giải thích thêm lọai này cho các bạn hiểu: khi hạt của cây bắt đầu thành hình (lúa, bắp, Canola….) những tế bào trong hạt đó tiết ra hóa chất giết cái MẦM của hạt giống đó khiến chúng không thể mọc thành cây khác sau khi chín mọng. Nếu những hóa chất đó đi vào cơ thể con người, thú vật, các bạn nghĩ sao? Nếu các bạn muốn biết thêm, cứ vô YOUTUBE và đánh chử: Monsanto, hoặc GMO, Terminator Seed.

PHẦN 2: Mưu Tiêu Diệt Nhân Lọai Monsanto Và Chính Phủ Hoa Kỳ
Lưu ý: Đây không phải là hiểm họa và chuyện riêng của Hoa Kỳ mà là mối nguy cơ của cả thế giới . Monsanto đã có mặt tại Việt Nam rồi. Hiểm họa này rùng rợn, thâm độc, âm thầm, lặng lẽ... Ai có chiều sâu, hãy vận dụng hểt trí óc mà hiểu thì sẽ hiểu quyền lực vô hình nào đằng sau Monsanto.

Bây giờ mời các bạn nghiên cứu thêm những gì Monsanto đã và đang làm gì trong chính phủ Hoa kỳ:     

- Tại Hoa Kỳ, có 3 cơ quan lớn của chính phủ đặc trách trông coi về thực phẩm là: Bộ Nông Nghiệp, Bộ Môi Sinh (EPA) , và Cơ Quan An Toàn Thực Phẩm (FDA) . Không hiểu vì lý do gì, cả 3 cơ quan này đều để trót lọt mọi họat động của Monsanto từ môi sinh, an toàn tiêu thụ, và biến đổi Giene DNA. Khi dân chúng đuợc báo về nguy cơ gây bịnh do dùng sản phẩm của Monsanto, các công ty dược phẩm cũng không đuợc phép dùng mẩu cây, trái, hạt giống của Monsanto để nghiên cứu tạo ra thuốc chống ung thư.

- Monsanto đã thu mua hàng chục ngàn hạt giống nguyên thủy, biến đổi chúng, rồi làm chủ chúng. Monsanto buộc các nông dân tiêu hủy lúa giống của họ (Xem Phần 3) . Monsanto nắm hết lúa gạo rau cải trái cây. Monsanto cho lan tràn các hạt giống VÔ SINH. Monsanto còn chế chất kích thích độc hại rBGH chích vào bò để làm sữa cho người dân uống. Cho dến ngay bây giờ, họ đã làm chủ một số giống thú bị biến đổi DNA, trong đó có Heo, cá Hồi.

Tôi muốn các bạn thấy chiến lược âm mưu đuờng dài của Monsanto. Nên nhớ là cây trái rau quả hạt thóc đã bị đổi DNA, khi phấn nó phối với giống nguyên thủy thì giống nguyên thủy sẽ bị đổi gien luôn. Nó sẽ lan tràn, phối hợp với giống nguyên thủy qua thụ phấn. Đây là một diển tiến không thể đi lùi lại đuợc vì DNA của các lọai biến đổi Gien này là Gien “thống trị” (dominant) .

CÂU HỎI là tại sao CP Hoa Kỳ không làm gì hết với âm mưu rùng rợn của Monsanto? Không hiểu CP Hoa Kỳ có dùng Monsanto như một vủ khí để thống trị thế giới không hay là chính họ đã bị tập đoàn này khống chế hoàn toàn. Các bạn xem đây:

- Trong lần bầu cử năm 2006 Monsanto đã chi tổng cộng $ 3.640.000 đô la vận động hành lang.
- Phó Tổng thống Dan Quayle, chống lại các quy định mạnh mẽ để giám sát chặt chẽ vào ngành nông nghiệp sinh học của các cơ quan CP.
- Bác Sĩ Richard Burroughs của FDA bị sa thải năm 1989 vì chống đối việc chích kích thích tố rBGH vào bò sửa. Kích thích tố rBGH đuợc bào chế bởi... Monsanto. Monsanto and the regulators http://www.psrast.org/ecologmons.htm
- Dan Glickman, Bộ Trưởng Nông Nghiệp thời TT Clinton thú nhận “ tôi đuợc ‘cấp cao’ hơn cảnh báo là không đuợc đẩy mạnh vịệc giám sát nông nghiệp sinh học và sự phát triển công nghiệp biến đổi DNA trên thực vật.”
- Michael Taylor, Phó Ủy Viên của FDA 1991-1994 (Tư vấn cao cấp của Monsanto, sau đó là Phó Chủ Tịch về Chánh Sách Công Cộng của Monsanto từ 1998 đến 2001        
- Linda Fisher, Phó bộ trưởng của EPA (Phó Chủ Tịch của Monsanto)
- Clarence Thomas, Chủ Tịch Tòa Tối Cao Hoa Kỳ (Luật sư của Monsanto)
- Josh King, cựu Giám Đốc Thông Tin của Monsanto tại Washington,D.C
- Margaret Miller, Phó Giám Đốc FDA (cựu khoa học gia của Monsanto năm 1989)
- Micky Kantor, Bộ trưởng Thuơng mại (Ban Giám Đốc của Monsanto)
- Linda Watrud, nhân viên EPA (Khoa học gia nghiên cứu sinh học của Monsanto)
- Anne Veneman, Bộ Trưởng Nông Nghiệp (Ban Giám Đốc của CT Calgene, chuyên làm hạt giống vô sản, Monsanto đã mua đứt công ty này)
- Michael Friedman, Ủy Viên FDA (Phó Chủ Tịch Monsanto)
- Marcia Hale, cựu Phụ tá cho TT Mỹ (Giờ là Giám Đốc Quốc Tế Vụ của Monsanto)
- Suzanne Sechen, nhân viên FDA đặc trách chất rBGH, năm 1989 (Khi là sinh viên, đuợc Monsanto tài trợ cho các nghiên cứu)
- William Ruckelshaus, Chủ Tịch Quản Trị EPA (Thành viên Ban Giám Đốc Monsanto)
- Donald Rumsfeld, Bộ Trưởng Quốc Phòng (Chủ Tịch CT Searte, công ty con của Monsanto)
- John Ahscroft, Bộ Trưởng Tư Pháp (Quỹ vận động vào ghế này do Monsanto tài trợ
 Tom Vilsack, Bộ Trưởng Nông Nghiệp của TT Obama (Sáng lập viên của Governor's Biotechnology Partnership, Đồng minh,bạn thân của Monsanto, bật đèn xanh trong việc GMO Alfalfa cho Monsanto, Tom Vilsack - Wikipedia, the free encyclopedia http://en.wikipedia.org/wiki/Tom_Vilsack  (vào đọan cuối đề mục thứ 5) 

Đồng thời, còn hơn chục nhà nghiên cứu, luật sư, bác sĩ,…bị CP sa thải vì chống Monsanto, tên tuổi họ không quan trọng nên không cần đăng lên Muốn kiểm chứng, bạn lên mạng và đánh : (tên của họ và Monsanto) , ví dụ : Donald Rumsfeld monsanto 
 
PHẦN 3: Monsanto Và Nông Dân
Nhắc lại:

1. Sản phẩm Round Up của Monsanto sẽ diệt sạch cây cỏ TRỪ ra giống của họ tạo ra.

2. Nếu phấn cây của Monsanto bay qua bất cứ đồng lúa nào khác, phấn của chúng sẽ biến cây nguyên sinh thành ra cây của Monsanto. Mắt thuờng sẽ không thể phân biệt được giống nào là giống nào. Vì vậy, bất cứ nông trại nào bị nhiểm giống của Monsanto, thì theo luật pháp, họ có tội và phải tiêu hủy hết TẤT CẢ hạt giống trên ruộng đất của họ.

3. Biến đổi Gien của thực vật, động vật đuợc gọi là GMO (Genetic Modification Organism)

BÂY GIỜ XIN TIẾP TỤC:

- Tưởng rằng Monsanto sẽ dừng chân ở đây nhưng mọi người đều lầm. Họ chuẩn bị cho một kế họach kế tiếp rất đáng sợ cho thế giới. Nạn nhân đầu tiên của họ là ông Percey Schmeiser, một nông dân người Canada. Ông ta là một nhà nông cha truyền con nối bao đời chuyên trồng cây Canola để ép thành dầu ăn. Không biết vì lý do nào, tự nhiên trong hàng trăm mẩu đất của ông xuất hiện giống Canola GMO do Monsanto làm chủ. Một ngày đẹp trời, ông nhận đuợc đơn kiện của Monsanto về tội ăn cắp hạt giống.

Khi ra tòa, ông hết sức giải thích là không hiểu tại sao chúng lại có mặt trong đất của ông. Tòa phán ông có tội. Vợ ông khóc, ông khóc…số tiền ra tòa cộng với chi phí đi thử hạt giống, luật sư là hơn 1 trăm ngàn đô. Đã vậy, ông còn bị buộc phải đốt hết tất cả đồng ruộng và thiêu hủy hết hạt giống tồn kho. Đốt luôn TẤT CẢ hạt giống nguyên sinh mà cả đời ông khổ công gầy giống tốt. Thế là ông phá sản. (Xem clip 5 của ông ta): http://www.youtube.com/watch?v=oPKoSrc99p4

- “Chỉ cần tìm đuợc 1 cây của Monsanto trong hơn 300 mẩu đất, tất cả hạt giống trong 300 mẩu đất này của tôi sẽ bị tiêu hủy..” (lệnh của Tòa án, theo lời ông Percey Schmeiser.) Hiện giờ ông ta đã đi khắp nơi trên thế giới để vạch mặt âm mưư thống trị toàn cầu của Monsanto. Đây là một đoạn khác trình bày về trường hợp của ông (bỏ vài phút đầu giống clip bên trên) PERCY SCHMEISER - DAVID VERSUS MONSANTO - YouTube

- Sau khi thử nghiệm và thắng vụ ông Percey, từ năm 1998-2000, Monsanto đã gởi đơn kiện đến 9000 nông dân Hoa Kỳ và buộc tội họ ăn cắp hạt giống rau cải GMO do họ làm chủ (bắp, bông cải, đậu nành,..) . Tất cả những nông dân này không hề dùng hạt của Monsanto nhưng không hiểu sao nó lại xuất hiện trên ruộng họ. Hầu hết các nông dân này đều chịu trả tiền bồi thường vì thấy cái gương trước mắt từ ông Percey. Họ còn buộc phải tiêu hủy hết hạt giống nguyên thủy để khỏi bị ra tòa. Bất cứ ai chống lại họ đều bị phá sản khi dốc hết tài sản ra thanh toán mọi chi phí.

- Ghê gớm hơn : Tất cả nông dân này sau đó “bắt buộc” phải dùng giống của Monsanto vì thứ 1, giống chính của họ đã bị tiêu hủy sạch; thứ 2, nếu không dùng giống của Monsanto thì cũng lại bị nhiểm và lại ra tòa. Cái đáng sợ hơn là Monsanto chỉ bán hạt giống,…TRIỆT SẢN (xem Phần 1) : Những giống này chỉ gặt đuợc MỘT lần vì chúng đã bị biến Gien thành vô sinh. Nghĩa là các nông dân này phải mua hạt mới của Monsanto sau mổi vụ mùa. Lọai giống này không những đã bị triệt sản mà chúng còn bị ghép DNA có khả năng miển nhiểm với thuốc diệt cỏ Round Up do Monsanto chế tạo. Round Up, một hóa chất tương tự như chất độc da cam (Agent Orange) và hiện nay, có 4 lọai giống chính của Monsanto là “Round Up Ready” Bắp, Đậu Nành, dầu Canola, và Bông Vải. Theo thống kê năm 1996, Hoa Kỳ hiện có khoảng 100 triệu mẫu trồng giống GMO.
- Thế là hầu hết sản phẩm nông nghiệp của Hoa Kỳ đều là giống đã bị biến đổi Gien; một sản phẩm trái với thiên nhiên và gây ra ung thư di căn trong con người tới nhiều đời con cháu. Hiện giờ, chúng đã lan tràn khắp thế giới: Canada, Mexico, Nam Mỹ, Âu châu, Phi châu, Á châu. Tại Hoa Kỳ, HƠN 95% ĐẬU VÀ 80% BẮP LÀ DO MONSANTO LÀM CHỦ. Chỉ còn 1 số rất nhỏ nông gia là không dùng sản phẩm của Monsanto 

Monsanto Corn Monsanto: The Seed Monopoly That Caused Genetically Modified Food To Start Showing Up On Nearly Every Dinner Table In The United States

- Hiện nay, các lọai hạt giống gọi là “Round Up Ready” này do Monsanto làm chủ đã lan tràn hàng triệu mẩu trên các nước Nam Mỹ như Mể, Ba Tây, Paraguay, Argentina… nhiều trẻ em nông dân sống gần những nông trại đã xử dụng thuốc diệt cỏ Round up đã bị nhiểm bịnh lạ như lở da, bỏ ăn, nôn mửa….Bất cứ chổ nào có lọai cây của Monsanto, nơi đó đều có Round Up vì chỉ  có giống đó mới chịu nổi thuốc diệt cỏ của họ.

- Trong đầu thập niên 2000, bịnh bò điên phát hiện tại Âu Châu. Khi tìm hiểu nguyên nhân của nó, người ta đều nhìn về… Nam Mỹ. Mổi năm, Âu Châu đã nhập cảng hàng chục triệu tấn Bắp, Đậu Nành để làm thực phẩm cho gia súc của họ. Trong đó có bò, heo, gà. Hơn 90% các lọai bắp, đậu nành này đều là sản phẩm GMO của Monsanto. Bò điên, Heo long mồm lở móng, cúm Gà.

- Tại Ấn Độ, đã có hơn 40.000 nông dân tự tử chết vì chiến lược của Monsanto. Sau mổi mùa gặt, nếu không dư tiền để mua lại hạt giống mới cho mùa tới là coi như vỡ nợ và đói. Mức độ thụ phấn lây lan qua giống nguyên thủy làm họ không còn giống nguyên thủy để tiếp tục trồng trọt.

PHẦN 4: Monsanto, Cải Biến Gien DNA, Bịnh Tật, và Phá Trật Tự Thiên Nhiên

Trong vũ trụ, mọi việc đã được Tạo Hóa sắp đặt li ti tinh vi từng chút, sự vận chuyển của hàng muôn ức tinh cầu và chúng không bao giờ di chuyển sai một ly. Trong những tinh cầu đó có muôn ức sinh linh sống tuần hoàn theo định luật của nó một cách trật tự kỳ diệu. Trong cơ thể con người cũng chứa hàng ức ức sự sống: biết bao là chủng tử sinh linh làm việc vận hành giúp cơ thể ta đuợc sinh động. Trong lúc nhập định, soi mắt vào cơ thể, ta có thể thấy ngay trong những vi sinh đó, bên trong chính nó lại có hằng hà sa số những vi sinh khác.Cơ thể ta chính là một tiểu vũ trụ nằm trong Đại Thiên. Trật tự trong thiên nhiên là giúp cho mọi vật ở đâu nằm ở đó. Thay đổi nó là phá trật tự, gây phản ứng dây chuyền, đó là phạm luật, là gây ra đại họa tự hủy diệt.

Phản Ứng Dây Chuyền Trong Thiên Nhiên: Một Ví Dụ nhỏ: Ong Mật trên đà suy thoái trầm trọng. Collapsing Colonies: Are GM Crops Killing Bees? - SPIEGEL ONLINE - News - International

Cha đẻ Thuyết Tương Đối Einstien đã nói: "Nếu loài ong bị diệt, chúng ta chỉ sống 4 năm nữa thôi" Einstein and bees - Yahoo! Search Results:

- Monsanto đã lấy DNA của giống cá sống ở băng tuyết cực lạnh miền Bắc cực rồi ghép vào cây cà. Cây Cà này bổng nhiên chịu đuợc độ lạnh đông đá mà không chết, trái của nó bị tuyết phủ mà vẩn không hư. Nhưng khi bán ra chợ, hàng triệu tấn Cà sau đó bị ế vì vị của nó nhạt thết, lại không có mùi vị thơm tho đậm đà như Cà tự nhiên. -Giống này có DNA của vi khuẩn E. Coli đã chống được lửa, tuyết, và chất độc nhất thế giới.

- Thấy chuyện đơn giản nhưng thật ra Monsanto đã tạo ra một quái vật đó là sự phối giống giửa Thực vật và Động vật. Hiện giờ, những DNA trong giống Cà đó chúng chưa đủ thời gian để tiến hóa, nhưng sau này, chúng tiến hóa và sẽ biến hình, biến dạng thì không thể biết nó ra sao. Có thể nói, Monsanto đã mở đuờng cho 1 loại quái vật mới cho địa cầu.

- Lần đầu tiên hết, khi Monsanto cố cấy vi khuẩn E. Coli (đã miển nhiểm chất Round Up, xem phần 1) vào 1 tế bào của cây, tế bào cây không chấp nhận và đẩy ra. Sau đó Monsanto dùng tia điện bắn lên mặt tế bào cây, tạo ra nhiều vết nứt rồi cho DNA của E. Coli xâm nhập. Họ đã thành công: một giống cây chịu đựng đuợc chất cực độc Round Up đã ra đời. Bạn hãy tưởng tượng họ phun chất độc tương tự như chất độc da cam lên nông trại mà cây không hề chết thì những cây trái biến giống này cũng sẽ độc như thế nào khi ăn vào. Cào cào, Châu chấu sau khi ăn loại cây này, sau này miển nhiểm sẽ trở nên một đại họa vì không cách gì diệt được chúng !

- Hậu quả là thức ăn GMO mang lại một thảm họa cho sức khỏe của người dân trên thế giới. Trong vòng 9 năm kể từ khi họ bắt đầu sản xuất lọai này từ 1996, nhiều căn bệnh mãn tính đã tăng lên tới 13% trong dân số thế giới. Dị ứng thức ăn tăng gấp đôi, và nhiều bịnh lạ đang xuất hiện. Hàng triệu người có biến chứng ung thư mà vẩn không hiểu tại sao. Đây là mối nguy thầm lặng của nhân loại: nó không phát ra liền nhưng sau nhiều năm tích tụ độc tố, nó sẽ bùng phát thành bịnh, lúc đó vô phuơng cứu.

The Health Dangers of Genetically Modified Foods - YouTube (10 phút)

TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM: Chuột

**Khi thử nghiện với chuột cho ăn bột đậu nành GMO, hầu hết chuột con đều chết trong vòng 3 tuần. Con của chúng nhỏ hơn và sau đó khi lớn thì có nhiều vấn đề với sinh sản (Irina Ermakova, 2005-2007).

** Theo nghiên cứu của Chính phủ Úc, chuột đuợc ăn bắp GMO đẻ con ít hơn và nhỏ hơn.

** Nhiều nông trại chăn nuôi Hoa Kỳ và Âu Châu báo cáo là heo nuôi bằng GMO bị vô sinh, sanh quái thai, và đẻ non. Tiểu Bang Haryana tại Ấn Độ cũng báo cáo tương tợ với bò và trâu.

- Viện Y Dược Môi Sinh Hoa Kỳ (The American Academy of Environmental Medicine) khuyến cáo là ăn thức ăn GMO sẽ gây bịnh:

- hư trầm trọng cơ tạng,
- hư hệ thống tiêu hóa (ung thư ruột),
- suy yếu hệ thống miển nhiểm,
- mau già
- gây bịnh vô sinh ( trứng/tinh trùng tổn thương)
- rối loạn chức năng điều chỉnh chất Insulin và cholesterol.

SAU ĐÂY LÀ TÓM TẮT 50 NGUY HIỂM CỦA KỸ NGHỆ GMO:

1. Tử vong tăng cao gần đây do ăn GMO
2. Dị ứng thực phẩm : khõang 50 triệu dân Mỹ bị ngứa, ghẻ khi ăn đồ ăn GMO
3. Ung thư
4. Hư thai & giảm tuổi thọ
5. Tích tụ độc tố trong cơ thể
6. Đất đai bị hủy diệt, tích chứa chất độc
7. Nhiều cây cỏ bị diệt chủng
8. Tạo ra nhiều Siêu sinh vật
9. Giết hại loài ong mật
10. Mùa màng ít hơn

Các bạn coi thêm 40 cái còn lại: Genetically Modified (GM) Food, Genetically Modified Organisms, Genetic Engineering, GM Food Crops, Engineered GMOs, Genetically Altered Foods http://www.raw-wisdom.com/50harmful.

PHẦN 5: Monsanto và Phản Ứng Thế Giới
Họ đã gây ra thảm họa trong thế giới thực vật làm biến dạng DNA lan tràn qua phấn hoa nhiều cây cỏ trên thế giới (Phần 1) . Hiện giờ họ vẫn đang tiếp tục bành trướng và đang bắt đầu kế họach làm chủ Súc Vật. Theo phán quyết của Tòa Tối Cao Hoa Kỳ do ông Thomas Lawrence làm Chủ Tịch (cựu luật sư của Monsanto, xem Phần 2) thì “ bất cứ Gien DNA nào của Monsanto di truyền đến đâu, họ có chủ quyền đến đó” , vậy thì khi gia súc ăn thực phẩm GMO của Monsanto và Gien của chúng có mang Chủ Quyền (Pattern) , thì họ sẽ có chủ quyền trên những súc vật đó.

- Hiện giờ Monsanto đang làm chủ 1 số giống Heo GMO, theo Đăng Ký Số WO2009097403: Monsanto files patent for new invention: the pig | Greenpeace International .

Họ đã nộp đơn xin chủ quyền lên giống cá vào tháng 3 theo đăng ký số WO201027788, hãy vào xem giống cá Hồi (Salmon) đã bị ghép DNA của một giống Luơn GMO Salmon What Next? Genetically Modified Food - YouTube (hình phút 0:28)

- Đây là một tài liệu rất giá trị về trường hợp Monsanto làm chủ giống heo: http://wideeyecinema.com/?p=110, http://wideeyecinema.com/?p=110 (Clip này có nói về ông Percey (trong phần 2) vận động chống Monsanto ở tòa. Đọan phim tiết lộ, Kirk Azevedo, một cựu nhân viên của Monsanto kể lại rằng Monsanto đã nói “trong vòng 30 năm tới, chúng tôi muốn làm chủ nguồn thực phẩm thế giới”. Ông Witherspoon, một nhà nghiên cứu sinh học nói rằng Monsanto không quan tâm về cổ phần mà chỉ muốn làm sao loại trừ hết đối thủ bằng chủ quyền đã đăng ký. Nhiều trại heo báo cáo heo ăn GMO của Monsanto bị nhiều biến chứng; khi họ báo cáo lên FDA, EPA, hồ sơ họ đều bị dìm. Clip còn tiết lộ nhân viên chính phủ nào giúp đở Monsanto, khi rời nhiệm sở đều đuợc nhận chức vụ cao của họ như là trả ơn. Còn những ai chống đối họ đều bị sa thải như truờng hợp ông Richard Burrough của FDA. Ngay cả cô Jane Akre, thông tín viên Đài Truyền Hình Fox cũngbị sa thải vì muốn lên tiếng cho công chúng biết sự nguy hiểm của sản phẩm Monsanto. Hãy xem cô Jane Akre kể lại tình tiết Monsanto áp lực Fox và sa thải họ như thế nào:
Cũng trong clip này, đích thân TT Bush kêu gọi Âu Châu phải bải bỏ lịnh cấm kỹ nghệ Sinh Học, đây là một bằng chứng để chúng ta suy nghĩ nghi vấn của tôi trong Phần 2 về CP Hoa Kỳ. Trong cuối đoạn phim, người bỏ công thực hiện phim này nói “ 10 năm truớc tôi nghĩ chuyện chủ quyền sinh vật là chuyện cười, nhưng không! Đây là chuyện phải khóc đó.”)

PHẢN ỨNG CỦA THẾ GIỚI:

- May mắn thay, các tổ chức Thế Giới đang tẩy chay Monsanto và Thực Phẩm GMO. Liên Hiệp Âu Châu biết rằng không thể triệt hạ Monsanto nhưng họ đã có chiến lược độc đáo là buộc phải dán nhãn cảnh báo người tiêu thụ trên sản phẩm có GMO trên khắp toàn cỏi Âu Châu. Riêng tại Hoa Kỳ, một người mẹ tại Bang Oregon, cô Donna Harris đã bỏ ra 2000 đô để đưa ra luật “Dán Nhãn” nhưng Monsanto và kỷ nghệ GMO đã bỏ ra 5 Triệu đô và đánh bại dự luật này. GMO Labeling defeated in Oregon
http://newfarm.rodaleinstitute.org/news/2002/111502/oregon_defeat.shtml

- Nhiều nông gia Hoa Kỳ đang đoàn kết nhau chống lại Monsanto. Họ đã đâm đơn kiện ngược lại việc xâm phạm thiên nhiên. Họ tuyên bố rằng Monsanto không thể làm chủ bất cứ gì trong thiên nhiên, ngay cả mặt trời. Nhiều nông trại bây giờ không xử dụng GMO và khuyến khích người dân nên dùng thực phẩm tự nhiên.

- Người Nhật nói rằng “ Hãy chóng mắt lên mà coi trẻ em Hoa Kỳ trong 10 năm tới.”

- Nhiều quốc gia thế giới đang thiêu hủy hết tất cả hạt giống, cây cỏ nào có GMO.

- Tổ Chức Chuyên Đánh Giá Đạo Đức của Thụy Sĩ qua nhiều cuộc thăm dò dư luận, đã đánh giá Monsanto là một công ty VÔ ĐẠO ĐỨC nhất thế giới.Monsanto: The #1 Most Unethical Company In The World | Disinformation

- Khi Monsanto lăm le bắt đầu muốn biến đổi Gien với Lúa Mì, hơn 250 tổ chức nông dân, môi sinh, khoa học gia,… mở cuộc hội họp và phản đối.

- Hơn 300 ngàn công dân Hoa Kỳ đã viết thư lên Bộ Nông Nghiệp để phản đối Monsanto GMO

- Năm 2002, các chợ và nông trại bán thực phẩm Hửu Cơ (organic) tăng lên 80%.

- Cộng Đồng Âu Châu đi tiên phong bải bỏ xử dụng GMO từ năm 1982. Hiện giờ họ buộc phải dán nhãn GMO trên đồ ăn.

- Hàng triệu người trên Thế Giới tẩy chay GMO của Monsanto millions against monsanto - Yahoo! Search Results

- THÁNG 10 NĂM 2011 năm nay, các Tổ Chức sẽ ra chiến dịch chống Monsanto. Organic Consumers Association: Millions Against Monsanto Campaign

- Hãy xem clip ngắn vận động cho cuộc tẩy chay Monsanto VĨ ĐẠI TOÀN QUỐC vào tháng 10 này (2011) . Millions Against Monsanto Campaign 2011 - NaturalNews.tv hoặc vào Youtube
Thế Giới đã thức tỉnh và lên tiếng về hiểm họa của Monsanto và Kỹ Nghệ GMO.
50dangers

Còn người VN ta thì sao? Các bạn có ý thức sự nguy hiểm của nó như thế nào không?

PHẦN 6.a: Monsanto Và Chiến Lược Toàn Cầu

Tại sao họ lại chế ra toàn những sản phẩm cực độc mà toàn là thứ vủ khí giết người rất thầm lặng?

1) Aspartame: đuờng hóa học trong “Nutrasweet” để uống cà-phê, gây ra 92 chứng bịnh, xem liệt kê Bad News about products with Aspartame
http://www.dorway.com/badnews.html#symptoms

2) PCB: một hóa chất bọc dây điện. Monsanto đã biết chất này gây ung thư, lở da, ói mửa, ghẻ, tiểu đuờng, phong thấp… vậy mà âm thầm làm từ 1930 cho đến khi bị 20 ngàn người kiện $700 Million Settlement in Alabama PCB Lawsuit - NYTimes.com

3) GMO (xem phần 3)

4) SACCHARINE: đường hóa học trong kỷ nghệ nuớc ngọt; trong PEPSI, COKE đều có.

Chất này là một chất độc vậy mà đã lưư hành khắp thế giới qua dạng nuớc uống. Nó gây ra bịnh ung thư bàng quang, đường tiểu, da, và cơ tạng khi thí nghiệm chuột. Saccharin Still Poses Cancer Risk, Scientists Tell Federal Agency

5) DDT gây ung thư và xẩy thai

6) Chất Da Cam: phá môi sinh và di căn quái thai cho mọi sinh vật đến 50 năm sau

7) ROUND UP: xẩy thai, đẻ non, ung thư

8) rBHG : kích thích tố chích cho thú vật mau lớn và chích cho bò sửa. Gây ung thư vú
cancer
Tất cả những sản phẩm trên của Monsanto đều đuợc Y Khoa cho biết là sẽ gây ung thư và đủ mọi biến chứng nhưng tại sao các Cơ Quan EPA, FDA, Bộ Nông Nghiệp Hoa Kỳ đều phớt lờ? “HỌ” đang có ý đồ gì trên thế giới? Điều chúng ta muốn biết “HỌ” là ai? Là CP Hoa Kỳ hay là Monsanto ?

- Nếu xem trong danh sách nhân viên chánh phủ (Phần 2) , người ta có bằng chứng Monsanto đã có người trong đó từ thời TT Reagan, Bush (cha) , Bush (con) , Clinton, và Obama. Danh sách đó như tôi đã nói, nó chưa đủ đâu, ví dụ đâu ai để ý là Ủy Viên Đặc Trách Không Gian Hoa Kỳ, ông Robert J. Stevens dưới thời TT Bush lại là Ban Giám Đốc của Monsanto !!! Rồi bà Gwendolyn S. King từng là Phụ Tá cho TT Reagan, cũng là thành viên trong Ban Giám Đốc của Monsanto. Rồi ông George Poste, làm việc cho Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ cho đến năm 2004, cũng nằm trong Ban Giám Đốc Monsanto Monsanto Profiles, Brand Logos and Top Lists – Juggle.com http://www.juggle.com/monsanto rồi lại thêm Bộ truởng Thuơng Mại Hoa Kỳ trong năm 2004, ông John Bachmann cũng là người trong Ban Giám Đốc của Monsanto John Bachmann, Monsanto Board Member, Hides Position from US Chamber of Commerce | Veterans Today

Monsanto đã len lỏi và nắm hết các chức vụ quan trọng trong Bộ Nông Nghiệp, Bộ Thương Mại, Bộ Môi Sinh, Cơ Quan An toàn Thực Phẩm, Bộ Tư Pháp, trong Tòa Tối Cao của Hoa Kỳ và nhất là ngay trong Tòa Bạch Ốc. Điều này có nghĩa là gi? Tôi để các bạn tự suy nghĩ.

- Vậy thì tất cả những gì Monsanto làm không phải là tình cờ mà là MỘT CHIẾN LƯỢC có chủ trương vửng chắc từng buớc một. Họ đã dám tuyên bố là “ chúng tôi sẽ có người trong Tòa Bạch Ốc bất kể ai là Tổng Thống !.” và họ đã làm đúng như kế họach : Họ đang làm chủ Hoa Kỳ và đang bành truớng trên thế giới.

CHIẾN LƯỢC TOÀN CẦU:

1) Monsanto áp dụng y như trong nuớc là len lỏi qua các cơ quan về nông nghiệp, y tế, môi sinh để xâm nhập vào nuớc khác. Họ đã hiện diện trên 82 nước trên thế giới, đây là những quốc gia có sự hiện diện của họ trong trang nhà của họ: Monsanto ~ Monsanto Facilities Round the World

2) Sau khi khống chế CP Hoa Kỳ, buớc kế tiếp của họ là mua chuộc các chính phủ nuớc ngoài. Điển hình là họ đã hối lộ Bộ Y Tế Canada 2 triệu đô năm 1994 nhưng đã bại lộ Monsanto Accused of Attempt to Bribe Health Canada for rBGH (Posilac) Approval -- Item #10009

3) Năm 2005, họ hối lộ Bộ Nông Nghiệp Indonesia 1.5 triệu đô và 700 ngàn cho 140 nhân viên CP. Vụ này cũng bại lộ và bị tòa Dân Sự Hoa Kỳ truy tố Monsanto Bribery Charges in Indonesia by DoJ and USSEC - Third World Network Malaysia 27jan2005 http://www.mindfully.org/GE/2005/Monsanto-Indonesia-Bribery27jan05.htm

4) Năm 2008, Thái Lan: vừa đảo chánh xong 2 ngày là CP Quân Sự bải bỏ tức khắc lịnh cấm nhập cảng Monsanto GMO có từ truớc. Tại sao CP Thái làm vậy?

5) Họ vơ vét thật nhiều tiền trong nuớc qua nông dân trong và ngoài nuớc rồi dùng tiền đó mua chuộc các quốc gia. Chỉ có 2 vụ là đổ bể, chắc chắn là còn nhiều vụ khác mà trong đó Việt Nam không ngoại lê: Monsanto hiện ĐÃ CÓ MẶT TẠI VN. - Họ khống chế nông dân trong nước và ngoài nuớc, phá môi sinh thế giới, phá trật tự thiên nhiên qua GMO, chế hạt giống vô sinh, tạo ra heo bò cá biến đổi Gien và hiện nay Monsanto đang có mặt tại 82 QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI, các bạn vô đây và bấm chử “select country” phía trên Monsanto ~ Home Chúng ta hãy nghĩ xa hơn, đây không phải là chuyện Tư Bản hay Cộng Sản mà là chuyện của nhân loài.Sẽ có ngày chẳng còn chủ nghĩa nào hết mà chỉ còn QUỐC GIA MONSANTO. Nó có thể xảy ra trong 20 năm tới chứ không đùa đâu. Đây là lời tuyên bố của họ đấy!

Tôi vẩn đặt câu hỏi ở đây như trong Phần 2 : đây là chiến lược của CP Hoa Kỳ hay là CP Hoa Kỳ đã bị Monsanto khống chế ? Monsanto's Government Ties

1. Âm Mưu Tiêu Diệt Nhân Lọai

PHẦN 6.b: Monsanto Và Việt Nam

- Thật là một đại họa cho VN vì hiện giờ nhà cầm quyền đã cho phép Monsanto nhập vào biết bao là sản phẩm GMO. Trong đó, Bắp GMO đang tung hoành và tràn lan khắp nước ! Nhà cầm quyền VN khi cho phép giống bắp này của Monsanto sinh sôi nẩy nở trong nuớc đã không hiểu rằng phấn của nó sẽ lây DNA qua tất cả tất cả bắp VN. Nó sẽ làm hại Ong, Buớm, và tất cả những sinh vật nào ăn lá, rể, hạt của nó. Nó còn gây bịnh ung thư cho nguời dân trong đuờng dài như đã xảy ra tại Nam Mỹ, Phi Châu và gây thảm họa phá sản nông dân tự tử như tại Ân Độ ( xem những bài truớc) Thông báo số 4280/TB-BNN-VP ngày 15/8/2007

- Đã vậy, VN và nông dân không hề ý thức đuợc hiểm họa thầm lặng và chiến luợc của Monsanto. Nội trong năm nay (2011) , nông dân lại hí hửng nhập thêm Đậu Nành GMO của Monsanto về trồng Rau, Hoa, Quả Việt Nam - Monsanto sẽ nhập giống đậu tương kháng Aphid vào năm 2011

- Rồi lại khen tụng ca ngợi thành quả của Monsanto “năng suất cao, chất lượng quả tốt” của lọai dưa mới của Monsanto đã du nhập vào VN:ThS. ĐỖ THỊ LỢI

- Và kết quả là bây giờ, hiện tượng bắp của Monsanto đang dở chứng tại VN. Không hiểu vụ này có dính gì đến giống Vô Sinh mà Monsanto muốn cài vào VN không? Nếu có thì là một đại họa vì phấn của nó sẽ lan tràn khắp nơi: Ngô Việt Nam chờ chuyển gen

- Tôi không hiểu Nhà Nước VN giáo dục thế nào mà có cái chức gì gọi là phó giáo sư Tiến Sĩ ? Kiến thức của một nhà khoa học để ở đâu mà vui mừng khoe khoang một thảm họa diệt chủng âm thầm của Monsanto như ông Tiến Sĩ này chủ truơng trong năm 2015 Sinh học Việt Nam | Tin tức | Năm 2015, Việt Nam sẽ có cây trồng biến đổi gen Một nhà khoa học phải biết thế nào là đạo đức. Mình phải biết ranh giới của khoa học và phải biết dừng chân lại chổ nào! Khoa học chỉ là tìm lại cặn bả của Tạo Hóa: tất cả trật tự thiên nhiên đều có truớc và hiện hữu ức ức năm truớc khi ta hiện hữu. Chúng ta chẳng phát minh ra đuợc gì hết mà chỉ moi ra trong đống đồ chơi trong khu vuờn địa đàng của Tạo Hóa. Một đám con nít lượm đồ chơi trong vườn địa đàng rồi ráp nối chế biến thành vũ khí đưa đến hủy diệt nhau và cho đó là tuyệt vời ???

- VN đang buớc đi chập chững vào cái bẩy của Monsanto mà không hay biết! Từ Bộ Y Tế đến Bộ Nông Nghiệp cho đến các ‘Tiến Sĩ’, các truờng Đại Học đang hớn hở vui mừng ruớc vào đất nước một thảm họa Chất Độc Da Cam một lần nữa mà không hay biết gì. Họ còn sung suớng khen ngợi đồng ruộng sạch láng cỏ dại vì nhờ dùng Round Up để phun lên những cánh đồng trồng Roung Up Ready Đậu Nành, Bắp, Dưa,….của Monsanto rồi sau đó tung ra cho cả nuớc ăn ! Một mặt thì kiện họ qua vụ Da Cam mặt khác lại ruớc họ vào rải chất độc đó khắp đất nuớc ? ? ?

- Các bạn đừng tưởng rằng Monsanto sẽ không làm gì được tại VN. Họ đã làm đuợc tại Nam Mỹ, Phi Châu, Ấn Độ thì họ sẽ làm được tại VN. 

Chiến tranh bằng vũ khí thì dể đánh nhưng đánh chúng ta qua gió, mưa.. qua việc dùng gió để đưa phấn GMO vào ruộng lúa VN thì họ thắng như trở bàn tay. Bạn hỏi làm cách nào à ? … câu trả lời là ruộng lúa VN sẽ bị nhiểm giống VÔ SINH nếu VN ta đưa giống lúa này vào !!!. Sau khi nhiểm, lúa VN sẽ không sanh ra hạt cho mùa gặt tới ! Thế là chết đói.

Nếu không muốn chết đói thì phải mua giống của họ, và chiến lược này lại đuợc tái áp dụng trên VN như ĐÃ XẢY RA trên thế giới.

- Vấn đề là nhà cầm quyền VN có ai trong đó đủ sáng suốt để hiểu Monsanto hay không. Theo ý tôi thì chiến lược của Monsanto quá tinh vi và kín đáo cho nên VN không ai nhìn thấy. Tôi không biết Monsanto sẽ dở trò gì ở VN nhưng các bạn nào đã đọc qua 5 phần vừa qua, nên có trách nhiệm cho dư luận hiểu âm mưu của họ.

ĐỊA CHỈ CỦA HỌ TẠI VIỆT NAM:
Monsanto Company
2nd Floor, Hai Thanh Office Center
2 Thi Sach Street, District 1
Ho Chi Minh City
tel. 84-8-220-550
Our Regional Offices in Asia - Monsanto Elsewhere - Monsanto Pakistan
http://www.monsantopakistan.com/elsewhere/asia.html
- Cô Trần Thị Ý Nhi, Trưởng phòng Nhân sự - Monsanto Việt Nam Vietnam Employer - Testimonials

- Nhà nuớc VN có biết gì về Monsanto hay không? Bộ Nông Nghiệp có nghiên cứu gì về sản phẩm của họ không? Các nhà khoa học VN có hiểu gì về Monsanto không? Chúng ta không thể nào hành động như một bày trẻ mới xổng chuồng, cuống quít chụp giựt đồ chơi của người ta đã vứt bỏ ngoài đường và mang bừa vào nhà. Nhà cầm quyền phải có trách nhiệm giáo dục và cảnh tỉnh người dân việc này, nếu không con cháu chúng ta sau này sẽ còn bị nặng hơn Chất Da Cam gấp nhiều lần.