Nói từng chuyện một đã, trước nhất hãy xem cờ vàng có từ bao giờ, vì sao có đã.
Trong thời cận và hiện đại, Việt Nam đã từng có tới hai lần lá cờ vàng ba sọc đỏ được dùng, theo Wikipedia:

"Năm 1890, vua Thành Thái đổi sang dùng lá cờ có nền vàng ba sọc đỏ vắt ngang. Lá cờ này tồn tại qua các đời vua Thành Thái và Duy Tân, những ông vua chống đối Pháp, và do đó cũng được coi là biểu tượng chống Pháp. Sau khi Thành Thái và Duy Tân bị Pháp bắt đi đày, Khải Định lên ngôi theo quan điểm thân Pháp đã thay đổi cờ. Ông dùng cờ nền vàng và một sọc đỏ lớn vắt ngang, và cũng gọi cờ này là cờ long tinh."
Lá cờ vàng ba sọc đỏ thứ hai là lá cờ thời Bảo Đại được Thực dân Pháp đưa lên làm Quốc Trưởng của cái gọi "chính quyền Quốc Gia Việt Nam", lá cờ này thọ được 27 năm 15 ngày (5/6/1948 -30/4/1975).
Thế nhưng có chút vấn đề, Wikipedia viết là ông vua Thành Thái chống đối Pháp, thế nhưng giới sử học có đưa ra lá thư viết tay đề ngày 17/11/1914 gửi cho Toàn Quyền Đông Dương của ông vua gỗ Thành Thái có đoạn:

".... vậy xin Đức dám quốc ra lòng công bình nhơn đức tha tội cho tôi đặn[g] về xứ sở tôi kẻo tôi bị đầy biệc xứ đã tám năm rồi mà tôi vẫn giữ phép tắc luôn luôn trung [thành] với mẫu quốc luôn luôn, trăm lạy quan lớn xin quan lớn làm cái ơn mọn này cho tôi với thì tôi cảm ơn quan lớn vô cùng. Theo đây tôi cũng có nhờ quan lớn làm phước trao dùm cái phong thơ chữ như mà tôi gửi cho triều đình Annam đặn[g] tôi xin về Huế. Trăm lạy quan lớn!"
Viết như thế thì còn gì là tư cách của một ông vua? Chống Pháp ở đâu đây, chống theo kiểu mà Hoàng Cơ Thụy viết trong cuốn sách Việt Sử Khảo Luận - Cuốn 4 trang 1925 rằng:

"Hoàng Tử Vĩnh San chỉ được cấp dưỡng "một số tiền chết đói là 35.000 quan một năm.". Bà vợ trẻ là Hoàng Quý Phi Mai Thị Vàng "không chịu nổi cuộc sống xa quê hương cũng như khí hậu của đảo (Réunion) và cuộc đời nghèo khó. Ngài xin cho vợ, mẹ và em gái (tức Mệ Cười) được hồi hương (HtThược, 1984 tr. 196).
Sự thực khác:

Hoàng Quý Phi bị chồng đuổi về nước năm 1917 vì tội "loạn luân" với cha chồng là vua Thành Thái - có bệnh bạo dâm; còn mẹ và em gái Vĩnh San chỉ hồi hương 3 năm sau (Vũ Ngự Chiêu, tập san Đường Mới Số 1 năm 1983 tr. 100). Nói bà "bị hiếp dâm" có lẽ đúng hơn."
Vậy ông vua Thành Thái chống Pháp thế nào? Trong cuốn Những Bí Ẩn Lịch Sử Đàng Sau Cuộc Chiến Việt Nam ông Lữ Giang cho biết tại trang 395:

"Khi đưa cụ Ngô Đình Khả vào làm phụ đạo cho vua Thành Thái người Pháp muốn cụ theo dõi các hoạt động của vua và báo cáo cho Pháp biết những ý định phản nghịch của vua để có biện pháp kịp thời. Nhưng cụ Ngô Đình Khả đã hướng dẫn Thành Thái đi một hướng khác."
Hướng khác là hướng nào? Ngô Đình Khả là ai? Trong thời gian Thành Thái, Duy Tân và Khải Định tại vị, Ngô Đình Khả và Nguyễn Hữu Bài là những tín đồ Ca tô được trao cho nhiệm vụ biến các ông vua thành tín đồ Ca tô. Hai người này trước đó đều được Vatican đưa sang Trung Tâm Huấn Luyện Điệp Viên và Thông Ngôn ở Pinang thuộc đảo Paulo Pinang (Malaysia ngày nay) học hỏi kỹ thuật gián điệp và làm thông ngôn. Đối với người Pháp, thi Ngô Đình Khả và Nguyễn Hữu Bài là mật vụ được Pháp gài vào triều đình Huế để dò xét nhà vua, nhưng hễ người Pháp lơi lỏng thì họ thừa lệnh Vatican lái nhà vua theo hướng có lợi cho Vatican, mà tốt nhất là tròng được vào cổ ông vua này cái dây chuyền treo thập ác, đây là hướng mà ông Lữ Giang nói. Khi người Pháp không còn kiên trì bảo ban ông vua này được nữa, vì ông ngày càng ngả sang hướng Vatican mà chống lại lệnh của người Pháp thì họ hạ bệ và đày ông ta đi Réunion, dân gian thời trước năm 1945 dặt ra câu vè "Đày vua là Khả, đào mả là Bài" là nói Khả đã làm cho vua Thành Thái phải đi đày vậy.
Ông Lữ Giang là ai, một "tri thức" Ca tô chuyên nghề lập lờ đánh lận con đen, chạy tội cho Vatican, sau khi "Đức Mẹ" sợ CS hiếp dâm, bỏ chạy "vào Nam", Ngô Đình Diệm tôn Ca tô lên hàng quốc giáo thì những "tri thức" Ca tô chuyên nghề lập lờ đánh lận con đen như Lữ Giang bèn sửa "Đày vua là Khả, đào mả là Bài" thành "Đày vua không Khả, đào mả không Bài" nhằm chạy tội cho cha Ngô Đình Diệm.
Lá cờ có nền vàng ba sọc đỏ vắt ngang vua Thành Thái lấy ở đâu ra? Giới Ca tô tuyên truyền rằng vua Thành Thái và tâm phúc đã vẽ ra lá cờ này, tâm phúc của vua Thành Thái là ai, là những người như Khả, Bài và lá cờ vàng ba sọc đỏ với ba sọc đỏ là biểu tượng cho Chúa Ba Ngôi được ngụy trang là trượng trưng cho ba miền Nam, Trung và Bắc Việt Nam, trên cái nền vàng được ngụy ngôn là màu da của người Việt.
Còn lá cờ lá cờ vàng ba sọc mà ngụy quyền VNCH dùng thì sao? Ông thì bảo thừa hưởng từ cờ của vua Thành Thái, ông thì bảo kế tiếp lá cờ quẻ ly của chính phủ Trần Trọng Kim, chính phủ mà người Nhật lập ra để che đậy âm mưu "Đại Đông Á", người thì kể lá cờ vàng ba sọc đỏ là do ông Lê Văn Đệ họa kiểu và đệ trình lên ông Bảo Đại ở Hồng Kông vào năm 1948. Theo Wikipedia:

"Cờ vàng ba sọc đỏ được họa sĩ Lê Văn Đệ vẽ lại và đã được trình cho Bảo Đại trong một phiên họp ở Hồng Kông năm 1948. Nó có nền vàng với ba sọc đỏ và hai sọc vàng chen nhau nằm vắt ngang ở giữa, tượng trưng cho quẻ Càn trong Bát Quái, giống như cờ của An Nam trong thời gian từ 1890 đến 1920, có thông tin cho rằng ba sọc đỏ trên lá cờ còn tượng trưng cho dòng máu nhân dân ba miền của Việt Nam [cần dẫn chứng]. Bề ngang của mỗi sọc đỏ và vàng này bằng nhau và bề ngang chung của năm sọc bằng một phần ba bề ngang chung của lá cờ. Ngày 2 tháng 6, 1948, chính phủ lâm thời Nguyễn Văn Xuân chính thức dùng lá cờ vàng ba sọc đỏ làm quốc kỳ của Quốc Gia Việt Nam. Lá quốc kỳ vàng ba sọc đỏ sau này tiếp tục là quốc kỳ chính quyền Quốc Gia Việt Nam (1949-1955), và sau đó là quốc kỳ cho suốt thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa (1955-1975)."
Một người khác, ông John Phan viết bài "Quốc Kỳ của Quốc Gia Việt Nam và Việt Nam Cộng Hòa" ghi nhận là có nguồn tin cho rằng lá cờ vàng ba sọc đỏ

"đã được toàn quyền Đông Dương và Khâm Sứ Huế LeMaitre cùng với một nhóm linh mục, đã cho vẽ ra, trong chiêu bài "Giải Pháp Bảo Đại", để làm lá cờ cho chính phủ "Quốc Gia Việt Nam". Sau đó chính phủ nầy đã được chuẩn thuận bởi Tổng Thống Pháp, Vincint Auriol."
Ông Đỗ Mậu trong cuốn Tâm Thư cho hay:

lá cờ này là do Linh-mục Trần Hữu Thanh họa kiểu:
“Ai là tác giả lá cờ vàng ba sọc đỏ?
Đọc trong cuốn Việt Nam Nhân Chứng của Tướng Trần Văn Đôn, ở trang 74, ông có cho biết ông đã đề nghị thay lá cờ chữ Ly của chính phủ Trần Trọng Kim ra lá cờ vàng ba sọc đỏ.
Nhưng ai đã vẽ ra lá cờ đó?
Tình cờ tôi đọc được trong quyển: Giải Phóng: The Fall and Liberation of Saigon của Tiziano Terzani (St. Martin’s Press, New York, 1976), viết như sau:
Với sự ra đi của Khâm-sứ LeMaitre, sự liên hệ giữa chính quyền mới và Nhà Thờ sẽ tốt hơn ngay cả với giới lãnh đạo. Được sự hậu thuẫn của nhóm Linh-mục Thi và tờ báo Công Giáo và Dân Tộc, Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình cùng với 250 tu sĩ cao cấp khác đến tham dự buổi họp với các thành viên của Ủy Ban Quân Quản Sàigon tại Dinh Độc Lập để họ giải thích chính sách của họ và để trấn an những người Thiên Chúa giáo.
Đức Cha Bình cố gắng đưa Đức Cha Thuận đi theo tới chỗ họp, nhưng Ủy Ban Quân Quản Sàigon bảo rằng sự hiện diện của Đức Cha Thuận là không cần thiết. Khi tôi rời Sàigon, có tin đồn rằng Đức Cha Thuận đã thương lượng xin từ chức để đổi lấy sự ra đi khỏi Việt Nam.
Sự nhượng bộ đầu tiên với chính quyền mới là Nhà Thờ đã đồng ý cộng tác với chính quyền để xem chỗ nào có thể thay đổi được trong những lời cầu nguyện.
Linh-mục Trần Hữu Thanh chua chát nói: “Tôi không thấy cần phải thay đổi điều gì. Hàng ngàn người Việt Nam đã lên thiên đường với những lời cầu nguyện đó.”
Linh-mục Thanh ở lại Sàigon. Ông ta không chịu làm lãnh tụ nhóm Da-tô vũ trang chống chính phủ, và ông cũng không bị bộ đội bắt bỏ tù như tin đồn sau Giải Phóng. Ngay cả ông ta, một trong những biểu tượng của Da-tô giáo chống Cộng mãnh liệt nhất, vẫn có thể tiếp tục cuộc sống trong Nhà Thờ Dòng Chúa Cứu Thế ở đường Kỳ Đồng.
Tôi đến gặp Linh-mục Thanh vào một ngày Chủ Nhật trong Tháng 6 (1975) khi ông vừa làm lễ xong. Nhà thờ đầy người tới xưng tội hay xin ý kiến, và ở trước tượng Đức Mẹ là đám đông đàn bà thường hay đến đó cầu nguyện và có những người ăn mày chìa tay ra xin.
Trong số các linh mục di cư từ Bắc vào Nam năm 1954, Linh-mục Thanh là một trong số những linh mục có nhiều ảnh hưởng nhất. Vừa là một người có ý thức hệ cực đoan vừa là cố vấn cho ông Diệm, chính ông là người vẽ ra lá cờ “ba sọc” bay phất phới tại Sàigon cho đến ngày Giải Phóng. Ba sọc đó tượng trưng cho ba miền của Việt Nam: Bắc, Trung, Nam – nhưng cũng là “Ba Ngôi” (Trinity, tam vị nhất thể, chúa cha, chúa con và Thánh thần), ông đã có lần giải nghĩa cho tôi nghe như vậy.”
Ông Đỗ Mậu nhận xét:

“Một linh mục đã nói ra tôi tin ông không nói dối và trong giai đoạn đó nói dối được cái gì. Linh-mục Thanh còn sống. Tác giả Terzani còn sống, chúng ta có thể kiểm chứng được. Như vậy, người vẽ ra lá cờ vàng ba sọc đỏ là Linh-mục dòng Tên Trần Hữu Thanh, người chấp nhận là Quốc Trưởng Bảo Đại, ông ta là con nuôi của Khâm-sứ Jean Charles. Bảo Đại sang Pháp đi học đã ở nhà bố nuôi từ năm 1922 đến năm 1932 (Bảo Đại còn sống có thể kiểm chứng [lúc mà ông Đỗ Mậu viết bài này]). Người ký “Pháp Qui Tạm Thời” cho thi hành treo Quốc Kỳ vàng ba sọc đỏ và bài Quốc Ca của Lưu Hữu Phước vào ngày 1/6/1948 tức là ngày 24/4 năm Mậu Tý là Thủ Tướng dân Tây Nguyễn Văn Xuân có vợ đầm, có Đổng Lý Văn Phòng Phủ Thủ Tướng là ông Tây André Bauvais - Người đề nghị lấy lá cờ vàng ba sọc đỏ thay cho cờ quẻ Ly là André Trần Văn Đôn, từng xách cặp, tức “Aide de camp” của ông Xuân.
(Lại có tin ông Nguyễn Văn Tâm, Hùm Xám Cai Lậy, cũng tự nhận là tác giả lá cờ vàng ba sọc đỏ. Lịch sự hình thành lá cờ vàng ba sọc đỏ là như thế.).”
Như vậy là có ba nguồn tin khác nhau về tác giả chế ra lá cờ vàng ba sọc đỏ. Tuy là ba những thực sự chỉ là hai vì rằng nguồn tin số 2 và nguồn tin số 3 trên đây đều ghi nhận tác giả vẽ ra lá cờ vàng ba sọc đỏ là một người hay một nhóm tu sĩ Ca-tô, có nghĩa là họ cùng có một nguồn gốc là Giáo Hội La Mã hay Tòa Thánh Vatican.
Ai là tác giả chế ra lá cờ vàng ba sọc đỏ là không phải là điều quan trọng. Điều quan trọng là lá cờ này được dùng làm biểu tượng cho thế lực nào, và thế lực đó thực sự đã làm được gì cho đất nước và dân tộc?
Lá cá cờ vàng ba sọc đỏ là biểu tượng cho quyền lực của Vatican ở Việt Nam và được ngụy tạo làm biểu tượng cho “chính nghĩa quốc gia” của “những người Việt quốc gia”. Việc cho thành lập chính quyền Quốc Gia và việc chế ra là cờ vàng ba sọc đỏ có mục đích là để vừa làm bức bình phong che đậy cái bản chất làm tay sai cho Pháp và cho Vatican của cái chính quyền do ông Bảo Đại làm quốc trưởng, vừa giúp cho những tên Việt gian trong hàng ngũ quan lại trong thời “trăm năm nô lệ giặc Tây” bấu víu lấy nó để trút được cái gánh nặng mặc cảm tội ác làm Việt gian của họ. Như vậy, nó trở thành một biểu tượng cho sự ô nhục của bọn người vong bản "thà mất nước, chứ không thà mất Chúa" cấu kết với bọn phong kiến phản động và bọn lưu manh xu thời đón gió đã cam tâm bán nước cho giặc.